NGHIÊN CỨU – PHÊ BÌNH VĂN HỌC Về “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”

ĐẶNG THÙY TRÂM – BÀI THƠ GỞI LẠI

Giữa một cuộc chiến tranh có tên “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa” thời điểm 1966 -1973, có những ngôi mộ không năm tháng và những bài thơ không tên lẫn giữa “vùng trời hố bom” mãi cho đến bây giờ…

A. BÀI THƠ KHÔNG TÊN:

I. BÀI THƠ:

7.1.70

Tôi đứng đây giữa núi rừng lộng gió

Mưa đan dày trùm cả rừng cây

Nghe gió mùa đông bắc thổi về đây

Lòng bỗng thấy nhớ thương tha thiết

Ơi những người thân yêu ở nơi xa có biết

Tôi nghĩ gì trong gió lạnh chiều nay

Chiều nay….

Ai đi giữa hàng cây

Trên những con đường thênh thang của trái tim tổ quốc

Ai đi giữa công viên Thống Nhất

Nhìn bóng dừa nghĩ đến miền Nam

Và những bóng hình tha thiết yêu thương

Bỗng đang về đây giữa lòng Hà Nội

Như những đêm nào Hồ Gươm dạ hội

Vai kề vai vui đón xuân sang

Chiều nay…

Giữa đỉnh Trường Sơn

Người giải phóng quân trên đường ra trận tuyến

Có nghĩ gì chăng hỡi người thương mến

Khi nhìn về dãy núi phương Nam

Sóng biển Sa Huỳnh vẫn mặn nhớ thương

Vẫn dạt dào đêm ngày vẫy gọi

Vẫn chờ anh với chiến công chói lọi

Và hẹn ngày đất nước yên vui

Ta lại cùng nhau tay nắm trong tay

Đi đón mùa xuân giữa niềm hạnh phúc

Chiều nay…

Trong căn nhà giữa xóm thôn quen thuộc

Ai nghĩ gì mà đôi mắt long lanh

Mưa nắng dãi dầu trên mái tóc còn xanh

Vẫn không phai trong lòng tình thương cao đẹp

Có những đêm dài trên đường công tác

Lòng bồi hồi khi trở lại đường xưa

Cũng con đường này ta đã tiễn đưa

Trong những buổi chia tay nặng tình ruột thịt

Ai biết chăng dù ta có chết

Cho ngày mai cho đất nước tự do

Thì trong ta vẫn trọn niềm mơ

Và trọn vẹn cả tình thương chung thủy

Chiều nay…

Trong nghìn suy nghĩa

Ai khẽ thở dài thoáng nét âu lo

Ta thấy rồi trong những đêm thâu

Một đôi mắt đen vẫn còn chưa nghĩ

Ai lo cho đồng bào, anh em, đồng chí

Ai đau lòng khi bom đạn còn rơi

Ơi những người thân thiết của tôi ơi

Giữa chiều nay tôi bay về sum họp

Tôi hôn những người thân và lệ tràn trong mắt

Giọt lệ chảy dài thấm mặn yêu thương

Đường đi bao nỗi gian nan

Bàn chân lội suối băng ngàn ta đi

Chông gai nào có sá gì

Mắt nhìn vẫn một hướng về ngày mai

Và ai có biết chăng ai

Tình thương đã chắp cánh dài cho ta.

Bài thơ với 56 câu. Mở đầu có cấu trúc 8/7, cuối cùng kết lại 6/8. Không đề. Không thật hay nhưng tiếng lòng khao khát ước mơ hạnh phúc thì ngập tràn cay đắng trải dài trong một bố cục tương đối chặt chẽ. Bài thơ đó nằm trong cuốn sách “có số phận kỳ lạ”: ”Nhật Ký Đặng Thùy Trâm”. ”Nhật ký Đặng Thùy Trâm”(Thùy: Th) còn nhiều nghi vấn nhưng cốt lõi là “tiếng lòng” của một cô gái hy sinh trong chiến tranh có tên để lại một bài thơ không tên.

Thay vì thắp một cây nhang, đặt một vòng hoa, tôi chỉ xin được làm người chia sẻ nỗi khát khao yêu thương, những hoài bão ấp ủ mà cuốn nhật ký của Th đã nói lên một ”tiếng lòng” với những niềm riêng không thể nào lý giải như một bài thơ chưa khai sinh nổi một cái tên.

”Bài thơ không tên” (dạng phân tích): Có thể chia ba khổ:

1. Đoạn một: 6 câu đầu: Hoàn cảnh thực tại của người viết :

Tôi đứng đây giữa núi rừng lộng gió

Mưa đan dày trùm cả rừng cây.

Nghe gió mùa đông bắc thổi về đây

Lòng bỗng thấy nhớ thương da diết.

Ơi những người thân yêu ở nơi xa có biết

Tôi nghĩ gì trong gió lạnh chiều nay

Một bối cảnh: Núi rừng, mưa gió trùm kín khổ đầu. Rừng đây, núi đó mênh mông làm con người vốn bé nhỏ trước thiên nhiên càng như nhỏ bé hơn trong cơn mưa dày, mưa xối xả, mưa hối hả không kịp vuốt mặt. Mưa đã “đan dày” còn thêm “gió mùa đông bắc” tai ác kéo về, đưa sự giá lạnh gởi vào hồn người bé nhỏ kia cô đơn thêm trong gió rét.Vậy mà, con người nhỏ bé ấy đã như vượt qua nỗi buồn rét mướt, dám đương đầu với thực tại: Đối với con người can trường đó, núi rừng vẫn “lộng gió”! “Tôi đứng đây” ngang nhiên hứng chịu sự khắc nghiệt, không thụ động để lẫn núp những cơn giông bão của cuộc đời. Câu đầu tiên đã chuyển tải đầy đủ nội dung trên. Thế nhưng con người ấy dù cảm giác có “gió lộng” bao quanh phía ngoài thì từ trong sâu lắng nhất, nỗi buồn như có cánh, từ từ đi ra, bay lên. Nói cách khác: Chui ra, gậm nhấm… Đó là nỗi niềm tâm sự gì của người ở núi rừng cần người đọc chia xẻ?

Chính là “nỗi nhớ thương da diết”. Nếu chẳng phải là một kẻ xa quê, làm thân ly khách thì sẽ không bao giờ có nỗi niềm thương nhớ sâu sắc ấy trỗi dậy, vượt qua rét mướt để như được về với một thời chưa có nỗi giá lạnh giữa rừng núi bạt ngàn .

Hai câu sau giúp ta giải tỏa thắc mắc: Có một người đã đi xa, lên tận núi rừng sâu thẳm để đêm nghe gió hú, ngày súng bom… ru. Người ấy đang đội mưa, đội gió, chịu rét để cho nỗi nhớ thương bay về với “nhưng người thân yêu ở nơi xa.” Người hiện diện ở rừng núi bạt ngàn đó đang nghĩ gì trong “giá lạnh chiều nay” ở khổ giữa?

2. Đoạn hai: 33 câu giữa được chia tạm ra ba khổ nhỏ:

Những nỗi nhớ mênh mông đó được tác giả phân ra rõ ràng có chủ đích qua những trạng từ “chiều nay” ngắt đoạn đột ngột như “giật áo” ta quay lại cùng người viết với suy ngẫm….

a. Tác giả nghĩ về MB: Viết dùm tâm trạng người nơi ấy trong 9 câu tiếp: ( xem bài thơ từ đầu ).

Chiều nay…

Ai đi giữa hàng cây

Trên những con đường thênh thang của trái tim tổ quốc.

Câu thơ chững lại hai từ và năm từ rồi thả ra như không ghìm “vó ngựa” nhớ thương được nữa. Chúng như một lời thầm thì… Một hình ảnh ẩn dụ xuất hiện “trái tim tổ quốc” cho ta liên tưởng về Hà Nội lộng gió từng chiều với một con người bí ẩn lẫn vào đại danh từ chung “Ai” đang một mình đi giữa hàng cây và cùng đang nghĩ về miền Nam qua hình ảnh ẩn dụ nữa: “bóng dừa”. Lạ quá! Buổi chiều còn bóng dừa là buổi chiều hoàng hôn mất rồi! Liên tưởng ban đầu “thần giao cách cảm” đã ảm đạm hoàng hôn như một điềm báo gở?!

“Bóng dừa” giữa công viên Thống Nhất – Hà Nội gợi lên một “Dáng đứng Bến Tre”- quê hương xứ dừa ngọt ngào trĩu quả. Một sức sống mạnh mẽ lại vươn lên trong hoàng hôn giống như hình ảnh của một kẻ đầu sông nhớ người cuối bãi giữa đôi bờ khát vọng! Một tình cảm quê hương che chắn tình cảm riêng tư kín đáo vô cùng! Một tình yêu mang chất cách mạng mất rồi. Một tình yêu Tố Hữu rành rành chưa ráo mực:

Quả tim anh chia ba phần tươi đỏ

Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều

Phần cho thơ và phần để em yêu.

Để “em yêu” chớ không phải “anh yêu”. Dè sẻn đến mức tội nghiệp!

Liên tưởng người (Ai) nghĩ đến ta (Miền Nam). Cái riêng ẩn dưới cái chung. Tự mình viết kịch bản và kiêm diễn viên với hai phân vai trái ngược hoàn cảnh, trái ngược thuộc tính và trái luôn khí chất.

b. Lời tự đáp: 4 câu tiếp:

Và những bóng hình tha thiết yêu thương

Bỗng đang về đây giữa lòng Hà Nội

Như những đêm nào Hồ Gươm dạ hội

Vai kề vai vui đón xuân sang

Đoạn thơ như chỉ là tiếng lòng nghĩ sao nói vậy. Từ không trau chuốt. Mạch tải chạy luôn chẳng ngừng như để cùng kịp đón mùa xuân. Đó chính là lòng “tha thiết yêu thương” của kẻ cô đơn giữa núi rừng lạnh lẽo “cảm nhận” tình cảm từ “trái tim tổ quốc” ở trên. Tha thiết đó và tha thiết đây: Hai người ở hai nơi đã nghĩ về nhau, nhập về với kỷ niệm đẹp như một thuở chưa từng có chiến tranh, chưa cảm nhận chiến tranh là nguyên nhân của sự xa cách:

Như đêm nào…

Vai kề vai…

Câu thơ như rung lên vì cánh gió đã mang hơi xuân về ấm áp làm cho nỗi niềm thầm kín kia đã như quên hết những gì gọi là “cái chung” và để mặc cho chút tình cảm riêng trở về đánh động bằng kỷ niệm một đêm nào êm đềm biết bao: “Vai kề vai vui đón xuân sang”.

Người ở núi rừng đã hé mở cho người đọc “tiếng lòng” của mình tiềm ẩn trong cái lớn lao đất nước chợt bừng lóe lên. Thà một lần được gào trong gió, thét trong mưa. Gió mưa dĩ nhiên “im như thóc” không kể lễ nỗi lòng ghìm nén của người giữa núi rừng gió lộng cho ai nghe. Có như vậy, lòng người ở núi xa mới thấy dễ chịu hơn vì tình cảm không thể dối lừa nếu đã không yêu thương sao có thể viết bừa lên trang giấy?

Một thứ “tình đồng chí” tha thiết của Chính Hữu đem vào hoàn cảnh này hóa ra gượng ép để phủ nhận một tình cảm thiêng liêng còn dữ dội hơn tình đồng chí. Vượt lên tất cả. Đó là Tình Yêu . Người đó là ai? Ở đâu? Trạng từ ”Chiều nay ” thứ hai đưa ta tìm người cùng tác giả.

* Người đó là ”người ra trận”:

– Là một chiến sĩ giải phóng quân :

Chiều nay…

Giữa đỉnh Trường Sơn

Người giải phóng quân trên đường ra trận tuyến.

Có nghĩ gì chăng hỡi người thương mến

Khi nhìn về dãy núi phương Nam.

Bốn câu trên đã gọi đích danh, cung cấp cho ta một địa điểm: Trường Sơn; một con nguời: Giải phóng quân; một nhiệm vụ: Ra trận. Hình ảnh người ”giải phóng quân một lần ra đi. Nào có sá chi đâu ngày trở về” là mục tiêu, lý tưởng của lớp thanh niên thời loạn. Đó cũng là hình ảnh đại diện cho một tầng lớp trẻ miền Bắc dám ra đi theo tiếng gọi non sông mà trong ”Bài ca xuân 68”, Tố Hữu đã hết lòng ca ngợi :

Hoan hô anh giải phóng quân

Kính chào anh con nguời đẹp nhất.

Lịch sử hôn anh chàng trai chân đất

Sống hiên ngang bất khuất trên đời…

Thương yêu một mẫu người được coi ”đẹp nhất” thời bấy giờ quả là niềm tự hào cho những cô gái. Từng câu chữ lại tuôn ra cho ”người thương mến” từ khi anh mãi mê thả hồn về miền Nam giữa công viên Thống Nhất – Hà Nội cho đến khi anh vượt Trường Sơn. ”Trên đỉnh Trường Sơn ta hát ngàn lời ca” đó, anh sẽ nhớ về hình ảnh ”dãy núi phương Nam” với ”bóng dừa xõa tóc. Em dang tay gỡ rối tuổi học trò”? Giữa mênh mông rừng núi trập trùng, biết tìm em nơi đâu? May thay, tác giả đã mở lối: Nỗi nhớ mênh mông đó đã được gom tụ lại bằng một nỗi nhớ dễ bề định hướng. Đó là ”nỗi nhớ Sa Huỳnh”:

Sóng biển Sa Huỳnh vẫn mặn nhớ thương

Vẫn dạt dào đêm ngày vẫy gọi

Ta thấy từ Bắc vào Nam có lắm sông nhiều biển và có biết bao con sóng: Sóng bạc đầu Quy Nhơn thương nhớ về triền sóng gọi Nha Trang. Sóng tràn cát trắng Cam Ranh chạy về ghành Phan Rang, Phan Thiết. Sao người viết bài thơ chọn sóng ở Sa Huỳnh? Thì ra, ”người thương mến” đó đã bám trụ Sa Huỳnh – Quảng Ngãi, nơi xứ sở của muối biển trắng tinh như câu ca dao ngày nao:

Cơn sóng xô dạt bờ Quảng Ngãi

Muối Sa Huỳnh mặn cái nhớ thương.

Một người ”chín nhớ mười thương” không ở xứ dừa mà ở ngay giữa miền đất nước. Thật kỳ lạ, tình cảm đậm đà, chung thủy đầy chất lân tinh của muối ấy đang nhảy múa trong một bầu trời chung như chưa từng bị chia cắt nên tràn trề hy vọng tương lai:

Vẫn chờ anh với chiến công chói lọi

Và hẹn ngày đất nước yên vui.

Nhưng hỡi ơi! Con sóng tình yêu của Xuân Quỳnh da diết biết bao:

Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu xuôi về phương Nam.

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh-một phương.

đã dạt vào bờ một quy ước mà bàn tay chỉ có thể chạm vào giấc mơ và có khi chui vào mơ cũng không bắt nổi: Chờ anh lập chiến công, chờ đất nước yên vui rồi mình mới được hưởng chút ”dư hương” còn sót lại! Điềm báo trước đã không hy vọng mất rồi vì sự thuỷ chung chỉ riêng em thì làm sao giữ nổi con thuyền tình anh chỉ thích lênh đênh kia, cập bến!

Vì vậy, ước mơ “vai kề vai” như hôm nào, khát khao “tay trong tay” như dạo nọ đã thành bọt biển mù khơi! Sao mà nghiệt ngã thế? Cũng một mùa xuân mà mùa xuân trước đã đi vào kỷ niệm, mùa xuân sau lại chưa chín tới! Cũng một con người mà mỗi khát khao đời thường vẫn còn như ở hai bờ đại dương. Người đó là ai sao dường như cố nén tiếng thở dài trong niềm vui tự tạo. Khát khao “anh hôn em, hai người đồng chí” thôi cũng ở tận phương nào!

Một trạng từ chỉ thời gian“chiều nay” thứ ba xuất hiện cho biết người sẽ chịu nhiều thiệt thòi ấy là ai?

– Là một người con gái:

Chiều nay…

Trong căn nhà giữa xóm thôn quen thuộc

Ai nghĩ gì mà đôi mắt long lanh

Mưa nắng dãi dầu trên mái tóc còn xanh

Vẫn không phai trong lòng tình thương cao đẹp nhất.

Nếu đại từ “Ai” (đại từ phiếm chỉ) đoạn đầu là hình ảnh người con trai trong bộ đồ chiến sĩ giải phóng quân thì đại từ “Ai” trên đây không thể khác hơn ký âm riêng của một người con gái đang ở Sa Huỳnh bình thường như bao người con gái khác. Cô gái kia được miêu tả đang ở một địa điểm ‘’thôn xóm quen thuộc’’ chứ không phải là cô gái thành thị và tự nói với mình cũng là một cách nhắn gởi ý nhị đến cho một người. Sợi tơ nhện hồ hỡi giăng qua cõi lòng lúc đầu đã chùn lại với thời gian.

Ai nghĩ gì mà đôi mắt long lanh.

Mắt “long lanh” hầu như dùng đặc biệt cho tuổi thơ, cho người con gái tràn đầy sức sống, tràn đầy tình yêu. Một tình yêu đã xa quá, đã vượt khỏi tầm tay mà vẫn cố giữ, cố nhớ thương. Bởi vì, tình yêu ấy thật diệu kỳ thổi vào lòng cô gái thôn dã kia một sức mạnh tinh thần chống chọi lại với nỗi vất vã cuộc đời. Thành ngữ “mưa nắng dãi dầu” như “một nắng hai sương” mang “chín nhớ mười thương” đã không làm quặn đôi vai nhỏ bé mà ác nghiệt hơn lại đi qua “mái tóc còn xanh”! Vô tình hay cố ý mà lời thơ với từng câu chữ như cứa vào tim người: Tuổi xuân đó sẽ vì một thứ tình yêu (bao gồm đất nước và riêng tư) mà vùi chôn vĩnh viễn với thời gian (nắng mưa). Một hiện thực đau xót vô vàn: Tình yêu không có trẻ, già nhưng con người làm sao không tới thời bạc tóc? Hình như, người con gái này đã linh cảm “một lần đi biết bao giờ gặp lại, một lần xa biết bao nữa quay về” nên cố nhớ về một kỷ niệm cuối:

Cũng con đường này ta đã tiễn đưa.

Trong buổi chia tay nặng tình ruột thịt

Thì ra đó là kỷ niệm một lần chia tay, một lần đưa tiễn. Tiễn đưa ai và chia tay ai? Cô gái đã tiễn đưa một người vào miền Nam làm Giải phóng quân! Hiện tại không có gì, quá trống trải thì đành phải mượn quá khứ để tự an ủi mình. Quá khứ càng đẹp đẽ bao nhiêu thì hiện tại sẽ xa xót bấy nhiêu. Với cô gái này, yêu nhiều trong quá khứ sẽ đau khổ với hiện tại. Đơn giản thôi, cái người mình yêu đã không thể cùng mình đi bước cuối cùng. Cô đơn từ đó. Đọc lại hai câu thơ song song: “Cũng con đường này ta đã tiễn đưa Trong những buổi chia tay nặng tình ruột thịt”, ta cứ tưởng người con gái này chỉ một lần tiễn đưa và đưa một người. Nhưng không, hai câu, hai ý tách biệt hẳn hòi:

Câu đầu: “ta đã tiễn đưa” nghĩa là cô gái “tiễn đưa” một người. Từ “tiễn đưa” dùng chính xác tương ứng với mức độ tình cảm đã có của hai người trước đó. “Tiễn đưa” cũng là “tiễn” cả người đi lẫn “đưa” lòng mình theo người. Một buổi tiễn đưa ngập tiếng sóng trong lòng, đầy hoàng hôn trong mắt của Thâm Tâm cách ba mươi ba năm về trước đó.

Câu hai: Người con gái “chia tay” với người trong gia đình. “Chia tay” là từ lấp lửng hai ý: về và không về. Hai câu thơ, tác giả dùng hai từ tiễn biệt khác nhau “tiễn đưa” và “chia tay” để dành cho hai đối tượng một người yêu, một gia đình. Cấu trúc đặc biệt này đã phá vỡ cấu trúc thường của thơ với hai câu: Câu trên mở. Câu dưới kết. Câu trên mở ”ta đã tiễn đưa” nhưng không kết được vì đối tượng tiễn không được nói đến.

Câu dưới nhập lại cả hai cùng mở: “Những buổi chia tay” đã kết lại được đối tượng chia tay “nặng tình ruột thịt”.

Dẫu có chút kỳ quặc như thế nhưng tác giả chưa đủ sức sử dụng ngòi bút huyền hoặc, cực kỳ tinh thông như Thâm Tâm để đẩy nhân vật đến chỗ không ai hiểu thấu như trong “Tống biệt hành”. Thành thử, người đọc dễ dàng nhận ra ai là người đưa, ai là người đi: Người yêu ra đi và đến lượt mình đi. Anh đi trước. Em cũng tiếp bước theo sau. Mức độ tình cảm lẫn vào nhiệm vụ qua câu thơ đã đưa họ lên bực ngang hàng. Không ai dám coi thường đối phương. Yêu một người có tầm cỡ thì người yêu kia cũng phải có cỡ nào! Nhưng liệu sự chạy đua này có giúp cuộc tình kia trong chiến tranh đạt đến một giá trị được hưởng hay không: Có hạnh phúc khi cả hai “vẫn không phai tình thương” vẫn ”giữ lòng chung thuỷ ” hay không?

Bốn câu thơ sau của đoạn thứ hai đã bộc bạch một tâm trạng trước sau như một:

Ai có biết chăng dù ta có chết

Cho mai này đất nước tự do

Thì trong ta vẫn trọn niềm mơ

Và trọn vẹn tình thương chung thủy

Đại từ “Ai” trở lại như nói cho mọi người mà thật ra nói riêng cho “người ấy” như một lời ” trăn trối” cuối cùng, hiên ngang đầy khí phách. Không được đào tạo dưới một “mái trường xã hội chủ nghĩa”, người con gái này không thể có một ý chí sắt đá khiến ta liên tưởng đến những “bài học thuộc lòng” mà không học sinh nào dám quên. Một bài làm văn muốn “sống” phải tìm hết cách đem hình ảnh Đảng và lãnh tụ vào. Cuối bài phải gân cổ hô khẩu hiệu: “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” hay “Xung phong bất cứ nơi đâu khi tổ quốc cần”. Trò viết hoài cũng ngán mà thầy đọc hoài cũng ớn đến mang tai. Biết làm sao hơn!.

Cho nên, nhìn chữ “chết” cho “đất nước tự do” trong bài thơ không tên này, ta chỉ có thể nghĩ “chết” cho đất nước không có ngoại bang xâm lược còn “tự do” thật sự như cô gái kia mong mỏi, chao! Vẫn “bóng chim tăm cá”!. Cho dù là vậy, từ “chết” kia không ẩn núp dưới những từ đồng nghĩa khác âm sao siêu hơn như: ra đi, về cõi vĩnh hằng, sang bên kia thế giới, hy sinh, bỏ mình, khuất núi… mà vẫn dội vào lòng ta tiếng sóng Sa Huỳnh xót xa là vì lẽ nào? Vì con người xác định ”dù ta có chết” ấy khi sống đã có lý tưởng hẳn hòi là “vì đất nước tự do” là vì “tình thương chung thủy”. Con người sống không là người tầm thường thì nên chọn cái chết không ra ngoài từ “cao cả”.

Những câu thơ cứ chạy đi, chạy mãi không dấu chấm, dấu hỏi, ngắt, dừng, đổ lại lúc nào cũng chẳng biết như một lời tuyên thệ của một người con gái nơi “thôn cùng xóm vắng” ở biển Sa Huỳnh. Nàng là ai? Làm gì ở đó trong cuộc chiến?

3. Đoạn ba: Sức mạnh và niềm tin tuyệt đối trong đoạn có trạng từ thời gian “chiều nay” cuối cùng:

a. Sức mạnh nào?

Chiều nay…

Trong nghìn suy nghĩ

Ai khẽ thở dài thoáng nét lo âu

Ta thấy rồi trong những canh thâu

Một đôi mắt đen vẫn còn chưa nghỉ

Ai lo cho đồng bào anh em đồng chí

Ai đau lòng khi bom đạn còn rơi

Ai” ở đây lại trở thành thằng đại từ rắc rối. Ai trên đã rõ. Ai giữa đã tường. Vậy thì “Ai” cuối đoạn thơ thì là ai? Tại sao giữa một đoạn toàn “Ai” đầu câu bỗng xen vào “Ta” và “Một”. Giả sử năm câu trên mở đầu bằng loạt đại từ “Ai”, ta dễ dàng nhận ra: Tác giả chỉ chung tất cả. Những câu hỏi thiếu dấu để hỏi làm cho ta có cảm tưởng: Người làm thơ chưa rành rọt về thơ mà cũng dám làm, đã là một can đảm. Người làm thơ đặt câu hỏi mà không cần câu trả lời thì chính là “Ta” hỏi để “Ta’‘ trả lời.

Trong nghìn suy nghĩ’ của tác giả, ta lại gặp những câu “động não” khá lý thú. Nếu “Ta” là “Ai” ở câu một, hai và bốn là người con gái thì ”Ai” trong “Ai lo cho đồng bào anh em đồng chí” chẳng thể nào là của cô ta? Nhiệm vụ, trách nhiệm này to tát quá làm sao cô gái nhỏ bé không quyền cao, chức trọng kia gánh vác cho nổi hai từ “đồng bào”? Cho nên đại từ “Ai” ở đây như một câu hỏi tu từ bỏ ngõ.

Ta thấy rồi trong những đêm thâu

Một đôi mắt đen vẫn còn chưa nghỉ

“Đôi mắt đen” này của ai? Tạm thời, ta hiểu theo văn bản là của một người (vì chỉ có một đôi mắt). “Đôi mắt long lanh” ngày nao qua chiến tranh và nỗi chờ mong đã thành đôi mắt đen thâm quầng mất ngủ “còn chưa nghỉ“. Đôi mắt ấy chính là của người bám biển Sa Huỳnh. Thế nhưng bài thơ không tên giữa cuộc chiến có tên đặt trong cuốn sách mới đặt tên ”Nhật ký Đặng Thùy Trâm” khiến người viết không thể bỏ qua chi tiết nhỏ xíu dễ thương này trong bài thơ. Nếu bài này chưa biết tác giả thì chỉ cần căn cứ vào văn bản vài từ là biết ngay là bài thơ ai làm, làm cho ai, viết ở đâu?

Bài thơ ghi rõ: Sa Huỳnh tức là ở Quảng Ngãi. Có một người con gái tên Thùy Trâm (Th) đã xung phong vào chiến trường Đức Phổ – Quảng Ngãi. Người yêu Th là M. giải phóng quân. Người Th thương quặn lòng lại là Thuận – người em kết nghĩa đồng nghiệp – đồng chí. Trước bài thơ này là những trang viết của Th dành cho M. Dứt khoát bài thơ này, Th viết cho mình và cho riêng M. Nhưng đến đoạn cuối bài thơ, tình cảm của M. đã không đủ sức cho Th viết tiếp câu cuối cùng. Nỗi nhớ về người khác lại hiện ra hướng ngòi viết tác giả chạy theo tiếng lòng chân thật.

Toàn bộ cuốn nhật ký, Th chỉ dùng ”đôi mắt đen” một lần cho M.trong câu: ”M. đứng nhìn theo Th đi không ngoảnh lại biết rằng một đôi mắt đen đang dõi theo Th” (ngày 5.5.68 trang 45 sách in và trang 14 viết tay). Một lần cho Khánh – thương binh bị lân tinh đốt: ”Đôi mắt đen vui cười hôm nay chỉ còn là hai hốc nhỏ mi mắt đã chín vàng” ( ngày 29.7.69 trang 184 bản tay, 175 sách in). Một lần dùng cho Khiêm, người bạn thân thiết: ”Khiêm chết rồi, đôi mắt đen dịu hiền giờ đây mở trừng căm giận” (ngày 16.8.69 trang 72). Còn lại, Th chỉ dùng riêng cho Thuận: “Tạm biệt em, nhất định sẽ còn gặp lại em, sẽ hôn lên đôi mắt đen thân yêu của em” (7.2.70 trang 222). Chính đôi mắt ấy đã làm sáng bầu trời: “Đêm tối, mà bầu trời vẫn rực sáng! Vì ánh chớp, vì ánh lửa… hay vì một đôi mắt đen rực sáng tình thương” (17.6.68 trang 159). Trong giờ chia tay, Th cũng đã viết: “Giây phút chia tay mình nhìn thấy trong đôi mắt đen ngời ấy một nỗi nhớ thương kỳ lạ” (3.12.69 trang 200) và “Đôi mắt đen ngời sáng nhìn mình lo âu tha thiết” (5.3.70 trang 232). Đây cũng là ánh mắt của Thuận mà Th được nhìn lần cuối cùng!

Phân tích những bài thơ khó hiểu nhiều khi phải cần những cứu tinh (cuộc đời tác giả, tác phẩm) để giúp ta tránh hiểu xa rời cách hiểu căn bản của bài thơ. Vậy thì đây nên hiểu là ánh mắt của ai?

Câu hỏi này cũng chỉ để hỏi cũng như Th đã từng tự hỏi. Tự hỏi lòng để như được tiếp sức. Những từ quen thuộc như “đồng bào”, “đồng chí” đã đi vào máu thịt của những người sống trong một thời lửa đạn. Thời ấy, tình cảm con người trên chiến trận dành cho đồng đội còn nhiều nét “thật” hơn thời hòa bình vì cuộc sống của họ đã gắn chặt nhau trên từng cây số. Trong chiến đấu, họ không có giàu, nghèo mà chỉ có “chết” hoặc “sống”. Những hy sinh thời ly loạn không tính ”lời, lỗ ” như bây giờ. Một từ “hy sinh” vì đất nước ngày nay đã không còn ai can đảm ôm vào lòng như “một lý tưởng” của một thời kỳ chiến tranh có tên bất diệt với một khát vọng đời thường:

b. Niềm tin tuyệt đối và khát vọng yêu thương:

Ơi những người thân thiết của tôi ơi

Giữa chiều nay tôi bay về sum họp

Tôi hôn những người thân và lệ tràn trong mắt

Giọt lệ chảy dài thấm mặn yêu thương.

Trạng từ “chiều nay” ở đầu mỗi đoạn với ba chấm lửng biến mất. “Chiều nay” với những hồi ức đã biến vào câu thơ cho ước mơ hôm nay nhưng đã vĩnh viễn không bao giờ thực hiện khi người con gái này còn sống. Từ “bay” trong ”bay về sum họp” đã trở thành nghĩa “đi mây về gió”. Chỉ cách đó, nguời ta mới có thể thực hiện mơ ước và khát vọng của mình khi đã “về bên kia thế giới”!

Khi người làm thơ trở về tình cảm thật của lòng thì những từ xưng hô “Ai đó”, “Ai đây, hoặc “Ta” đầy khí phách cũng rơi rụng tuốt luốt. Cái “tôi” trở về với người thân, với gia đình, với người yêu có gì mà khách sáo mà giữ vẻ? Tôi hôn. Tôi khóc. Tôi yêu. Từ lâu nay, những tình cảm thiêng liêng này như là những “triện son” đóng vào cuộc đời của những người chân chính với những khát vọng yêu thương. Nhưng khát vọng yêu thương của người con gái trong thơ lại nằm trong niềm tin tuyệt đối. Nhịp thơ tự do dàn trải nỗi niềm tâm sự bỗng như được sức mạnh tự tạo mà chuyển đổi đột ngột, cứng cáp hẳn lên:

Đường đi bao nỗi gian nan

Bàn chân lội suối băng ngàn ta đi

Chông gai nào có sá gì

Mắt nhìn vẫn một huớng về ngày mai.

Thể 6/8 thường “được lòng” người đọc ở cách gieo vần êm dịu. Ở đây, vần êm dịu được cô gái sử dụng (dẫu chưa nhuần nhuyễn) để chuyển tải nội dung của một người đầy quyết tâm từ nút “đi” và nút “đến”. Tình cảm đã trào ra hết ở trên. Tiếng lòng đã thố lộ được nên cơ thể cũng như trạng thái tâm lý từ dạng căng như sợi dây đàn đã được thư giãn, quân bình. Cái “tôi” của người trong cô đơn tột cùng vừa bộc phát biến mất sau một trận bão lòng để nhường chỗ cho một lý tưởng bất di, bất dịch xuyên suốt bài thơ. Đó là lý tưởng: “Chẳng kẻ thù nào ngăn được bước ta đi”, “mắt nhìn vẫn một hướng về ngày mai”. Th đã đến lúc như Nguyễn Đình Thi trong ”Đất nước” quyết lòng:

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.

Mắt nhìn một hướng” của người con gái nối tiếp “chí lớn chưa về bàn tay không” của Thâm Tâm cộng thêm nét cương quyết, dứt lòng “đầu không ngoảnh lại” của Nguyễn Đình Thi đã thêm vào văn học chống Pháp, chống Mỹ một nội dung về tinh thần cách mạng ở thế tiến công: Người không quay đầu nhưng lịch sử sẽ quay mắt nhìn bốn hướng để thẩm luận về những hy sinh vì không có sự hy sinh nào mà vô nghĩa .

Hoán dụ quen thuộc “bàn chân” đi với cụm từ như ngạn ngữ “lội suối băng ngàn” đã chắp cánh ước mơ về một ngày mai tự do, hạnh phúc của người con gái trong thơ thành tiếng nói khát vọng chung của một dân tộc có quá nhiều chiến tranh chính nghĩa và tương tàn anh em. Không ai tin, chẳng ai ngờ những lời lẽ mang đức tin, tự hào về “quân xanh màu lá”, “đôi dép bác Hồ” cứng cáp, kiên cường như thế, rất “Đảng” như thế lại phát ra từ một cô gái tuổi đời vừa mới hai bảy?

Bài thơ với những câu thơ đơn giản giống một khúc hát trên đường hành quân của một loài hoa rừng bách nhật, như hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời. Tiếc thay, “mặt trời chân lý” ở quá cao và quá nóng. Cuối cùng sự nóng bỏng của chiến tranh làm trái tim con người khô queo tình thương nên trái tim ấy lại tìm về một “năng lượng” khác:

Và ai có biết chăng ai

Tình thương đã chắp cánh dài cho ta.

Từ “Ai” đã dành trọn cho một người. Con người ấy không phải là người mà Th – người con gái chung thuỷ đã yêu.Tình yêu riêng tư lại phải tìm về nơi ẩn náu ”tình thương” chung chung của đất nước. Ở trong mái che ấy, tình yêu mới sống nổi trong một thời kỳ chiến tranh mà tất cả phải dành cho Đảng, cho cách mạng.

Nói đi, dằn lại, vẫn có một “tình thương” kỳ lạ phát ra sức mạnh đủ quật ngã gió mưa, rét mướt, gian nan. Không có chút “tình thương” bé nhỏ đó mà tác giả cố tình lánh né, cho nó “núp bóng từ bi” thì bài thơ này trở thành bài văn ca ngợi chung chung, lên gân, nắn cốt nằm chết trong cô đơn vì ảo tưởng về ngày mai: Đất nước tự do. Dẫu ngày mai đất nước tự do mà không còn bóng dáng tình yêu thì tự do còn gì ý nghĩa!

II. Tổng kết:

Bài thơ 56 câu, không tên giữa cuộc chiến tranh có tên đã đi vào đời. Xuyên suốt bài thơ là những trăn trở về con người với tình thương, với ước mơ, với một ý chí sắt đá, sống chết hết mình vì lý tưởng đã chọn. Bài thơ không thật hay về nghệ thuật nhưng nội dung của nó là vấn đề mà hôm nay chúng ta cần trăn trở: Có một sự hy sinh như thế giữa cuộc đời chiến tranh như thế để người sau ăn trái thì ăn, đừng bẻ cả cành, quật tan tành gốc rễ tình thương mà người nằm xuống một đời ôm ấp! Tưởng tượng lại có những người đã dám sống như thế, ta có cảm giác kẻ sinh sau hình như đã đánh mất đi một ý niệm về tình yêu và dân tộc. Đất nước trọn niềm vui hay niềm đau còn đang đong đầy vẫn còn là câu hỏi xoáy vào tâm can của những người “giữ nước”. Bài thơ kết cấu tự do, bố cục chặc chẽ, mang tình cảm, lời nói thiết tha thả trôi, thả nổi để rồi đột ngột kết lại ở thể 6/8 mang theo một lý tưởng vừa có đất nước vừa có tình yêu đi trong hoàng hôn (năm trạng từ ”chiều nay”) như một điềm báo trước: Lý tưởng ràng buộc, còn tình yêu tự do đã không thể mang người ta vào khát vọng hạnh phúc. ”Bài thơ không tên” mộc mạc không phải của một nhà thơ nhưng chất giọng chân thành, yêu thương như chắp cánh làm người đọc quên đi những ngôn từ trùng lập, vần điệu, chuyển ngữ chưa nhịp nhàng và người viết sử dụng phép tu từ chưa thành thạo.

Thêm vào đó, sống trong thời đại chiến tranh, tình yêu không thể tự do bộc lộ mà không dựa trên lý tưởng cách mạng, đất nước nên bài thơ bị trộn lẫn tình thương và tình yêu. Tác giả muốn nói về tình yêu lại phải cứ núp bóng dưới hình ảnh “chiến công, đất nước, đồng bào, đồng chí“. Điều đó làm giảm đi giá trị tự nhiên của thơ. Đây cũng là nhược điểm toàn bộ thơ ca chiến tranh viết về đề tài tình yêu trong tình đất nước. Trần Đình Sử nhận xét về tình yêu của văn học thời kháng chiến: “Trong cuộc đấu tranh cứu nước gian khổ, ác liệt, tình yêu khó mà có vị trí hàng đầu trong đời sống tình cảm”. Câu nhận xét trên chỉ đúng một nửa. Nó “khó” vì chiến tranh không biết ai mất, ai còn nhưng tình yêu muôn đời là mãnh lực vô song. Ngó yếu mềm mà cuồn cuộn như nước. Ngó mát mẻ mà như bão như giông. Cái nào cũng có hai mặt phải trái. Trên chiến trường không vì tình yêu này, cái gì đủ sức mạnh để người ta chịu hứng trọn viên đạn từ giữa hai chiến tuyến?

Xét về chất thơ, “Bài thơ không tên” có hạn chế nhưng về mặt chiến tranh tâm lý thì đây là bài thơ đạt mức độ hoàn chỉnh. Nó góp một cơn gió vào cơn bão là bộ phận thơ ca chống Mỹ mà Tố Hữu đứng đầu, thổi lên những luồng bão tư tưởng hun đúc một sức mạnh tinh thần cho những người ra trận lao mình vào cuộc chiến tranh có tên kia đi dẫn đến sự kiện Mỹ rút quân kéo theo sự sụp đổ tất yếu của chế độ Cộng hòa. Người giải phóng quân truớc khi chết có thể tung hô: “Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm”, “Bác Hồ muôn năm” nhưng người lính cộng hòa khó có thể tụng: “Đảng Cộng hòa muôn năm” hay “Nguyễn Văn Thiệu muôn năm”. Khẩu hiệu và ngón đòn tâm lý chiến tranh vẫn là kế sách đầu tiên cho một cuộc chiến tranh dưới bất kỳ hình thức nào từ thô sơ đến mức tinh vi nhất.

Đằng sau giá trị tác phẩm “Bài thơ không tên” là một nhân vật có tên trong một cuốn sách có tên và giữa cuộc chiến tranh có tên: ”Nhật ký Đặng Thùy Trâm”, bác sĩ, liệt sĩ hy sinh ngày 22/6/1970 trong cuộc chiến tranh chống “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa” của Mỹ.

B. PHÂN TÍCH TÁC PHẨM: ”NHẬT KÝ ĐẶNG THÙY TRÂM”:

Vì đây là tác phẩm nhật ký nên phân tích tác phẩm cũng chỉ dựa trên yếu tố nhân vật trong tác phẩm mà thôi.

I. PHÂN TÍCH NHÂN VẬT VÀ THỂ “KÝ”:

1. Phân tích nhân vật:

Phân tích nhân vật là tìm ra đặc điểm của nhân vật đó thể hiện trong cuộc đời (qua tác phẩm), bộc lộ tất cả thuộc tính con người (yêu, thương, thù, ghét, vui, sướng, buồn, khổ…) qua từng hoàn cảnh với thái độ phản kháng nhất định (quyết liệt hoặc không). Phân tích nhân vật cũng là xem xét nhân vật đó có hay không có nét tính cách chung của thời đại họ đang sống và nét tính cách riêng nào của họ để kết luận nhân vật này có giá trị, ý nghĩa bài học gì để lại cho cuộc đời. Nhân vật nằm trong những thể loại khác nhau nên mức độ đánh giá nhân vật còn tùy thuộc vào thể loại mà nhân vật “sống, chết” trong đó. Lại Nguyên Ân trong ”Tính văn học”, (Tự điển văn học – Bộ mới, Nxb Thế giới – 2005), có nhận xét: “Việc thừa nhận thuộc tính văn học của những tác phẩm ký nhất định, đôi khi tùy thuộc vào quan niệm đương thời ở từng nền văn học về tính văn học”.

2. Vài nét về thể ký:

a. Ký được hiểu dưới dạng đơn giản :

Ký là một loại thể văn học. Tính chất chung của nó là ghi chép sự kiện xảy trong cuộc đời bao gồm sự kiện thời sự, lịch sử hay những vấn đề trong đời sống xã hội mà nhân vật đã sống trong đó. Ký mang nhiều sắc áo như sau:

* Bút ký: ‘’Người lái đò trên sông Đà’’ của Nguyễn Tuân; ‘’Một chép chép ở bệnh viện’’ của Bùi Đức Ái, “Bút ký” của Hoài An, “Bút ký” của Xuân Diệu (Miền Nam nước Việt, Việt Nam nghìn dặm…)

* Tùy bút: ‘’Đường chúng ta đi’’ của Nguyễn Trung Thành, “Đại đội cũ và trang sách cũ” của Trần Hoài Thư, “Đất Hồ ngàn năm” của Hoàng Hải Thúy…

* Ký sự: ‘’Ký sự Cao Lạng’’ của Nguyễn Huy Tưởng; ‘’Thượng kinh ký sự’’ của Lê Hữu Trác; “Ký sự hỏa xa” (HTV), “Cây Tùng trước bãi’’ của Hoàng Khởi Phong…

* Truyện ký: “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi, “Tây du ký” của Ngô Thừa Ân…

* Hồi ký: “Hồi ký Trần Độ” của Trần Độ, “Đường tới Điện Biên Phủ” của Võ Nguyên Giáp, “Hành trình qua cánh đồng chết” của Chanrithy Him, “Ba phút sự thật” của Phùng Quán, “Việt Nam nhân chứng’’ của Trần Văn Đôn, “My Live” của cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton…

* Nhật ký: ‘’Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh; “Nhật ký Tây hành” của Phạm Phú Thứ, “Nhật ký Sofia” (Bồ Đào Nha) “Nhật ký Anne Frank” của Anne Frank…

Nếu “Tùy bút” là dạng viết ngẫu hứng thì “Ký sự” ghi chép những việc mang tính chất thời sự gần giống văn phóng sự. Nếu “Bút ký” được hiểu như một sự sao chép thì “Truyện ký” được coi như nhân vật, sự việc có thật và được tác giả “xào nấu, nhồi nặn” cho mặn mòi thực đơn của mình. Chúng mang nét tổng quát là: Ghi lại những sự vật, sự việc có thật. “Hồi ký” và “Nhật ký” được coi như bà con ruột thịt gần nhau hơn.

b. “Nhật ký” và ”Hồi ký”:

– “Hồi ký” ghi lại theo trí nhớ nên có thể lẫn lộn thời gian, tô thêm chi tiết. “Hồi ký” viết như để người khác xem nên nhiều khi có những sự kiện, những vấn đề mà sự thật khó kiểm soát. Những người có ”tâm sự”, người nổi tiếng và đã lớn tuổi thường viết dạng này.

Không hiểu sao, thời đại bây giờ, “Hồi ký” lại như một phong trào: Người người đua nhau viết. Nước nước viết đua nhau. Ví dụ như hồi ký của vợ chồng cựu Tổng thống Bill Clinton “My Life” và “Living Story”, “Nhớ lại và ngẫm nghĩ” của Nguyên soái Liên Xô cũ G.K. Zhukov; ”Tường trình một quân nhân” (‘A Solder’s Reports’) viết về tham chiến 1964 -1968 của William C. Westmoreland –Tư lệnh Bộ Chỉ huy quân viện chinh Mỹ ở VN; ”Hồi ký cách mạng” của Hoàng Văn Hoan; “Cát bụi chân ai” của Tô Hoài, ”Hồi ký không tên” của Lý Quý Chung v.v…

Vai kề vai, sách kề sách nên khi “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” được tung ra vượt trội cả nhật ký Nguyễn Văn Thạc mang tên rất dễ thương ”Mãi mãi tuổi hai mươi” thì nhật ký “Tài hoa ra trận” của Hoàng Thượng Lân cũng được chắp cánh bay. Nhật ký của những liệt sĩ chưa thời đại nào ”được mùa” tươi tốt như thời đại này. Nhưng cơn mưa nào mà không có những mây đen.

– “Nhật ký” hầu như phải được ghi chép mỗi ngày. Chỉ cần ngày hôm nay chép lại ngày hôm trước là xem như dạng “Hồi ký”. Mọi sự kiện, mọi nhân vật và từng vấn đề phải trung thực một trăm phần trăm. Nếu trong nhật ký, ta đọc mà vẫn thấy đọng lại nhiêu dấu hỏi vì sự lý giải vấn đề chưa rõ ràng thì người viết nhật ký đã ”thiếu trung thực”. Mục đích của “nhật ký” là viết cho bản thân và cho… một người nào là người thân, là người yêu chứ người viết không nghĩ đến có thể xuất bản.

Đây chỉ là những khái niệm sơ đẵng, những ví dụ chưa thật chuẩn, chỉ có tính cách tham khảo chưa phải là một bài hoàn chỉnh về thể ”Ký” văn học.

”Nhật ký Đặng Thùy Trâm” nằm trong thể “Nhật ký” được xuất bản đàng hoàng, có tầm vóc ”dân tộc”, có giá trị ”lịch sử”, (theo đánh giá trong nước) dĩ nhiên, nó được xem như một tác phẩm văn học.

Ta phân tích nhân vật Th nằm trong tác phẩm và phân tích tác phẩm cũng theo nguyên tắc chung phân tích một tác phẩm văn học.

Th trong đời thật là con gia đình tiểu tư sản trí thức: Cha là bác sĩ, mẹ là dược sĩ, chị em là công chức nhà nước, bản thân là một bác sĩ, liệt sĩ. Nhân vật này mang giá trị hiện thực của đời thường bước vào tác phẩm thì thành nhân vật tác phẩm và trở ngược ra cuộc đời với hai nét đặc trưng: Tính cách nhân vật văn học và tính cách nhân vật hiện thực.

Tuy hài hòa nhưng nó không giống truyện ký (nhân vật thật nhưng được hư cấu thêm tình tiết cho phép) và nhật ký đòi hỏi tính chân thật triệt để.

II. Nhân vật Th: Tổng hợp mọi đặc điểm:

1. Th: Tiếng nói trung thành của một lý tưởng cách mạng khi được “mặt trời chân lý chiếu qua tim”: Có ít nhất hai mươi câu ghi lại của Th tiêu biểu cho nội dung trên.

Thời đại nào, con người ấy. Mái trường xã hội chủ nghĩa (xhcn) tất phải sản sinh ra con người xhcn. Những con người ấy một thời dài đăng đẵng đã lấy tư tưởng chủ nghĩa Karl Marx, Engels, Lenin làm nền và lấy “Năm điều của Bác Hồ dạy cho thanh thiếu niên” làm phương cách để “sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Con người xhcn là thế, ít ra, có một thời như thế.

Nhân vật Th: Vai vác lời thề với Bác, tim gan choáng ngợp lý tưởng Đảng, gạt hết mọi thứ “tươi sáng” để lên đường. Những cuốn sách viết “Lịch sử Việt Nam” hiện nay (lịch sử Đảng CSVN có lẽ đúng hơn) đã miêu tả thời đó, lớp lớp thanh niên xung phong vào vệ quốc quân, vào chiến sĩ giải phóng quân đều nô nức theo khúc nhạc “Lên đàng” của Lưu Hữu Phước. Ở miền Nam oái ăm thay, bao lần sàn qua, lọc lại vẫn chọn “Tiếng gọi thanh niên” làm quốc ca cho chế độ VNCH đồng tác giả mà người đương đại gọi “nhạc sĩ việt cộng nòi”. Không biết những người lính VNCH ra trận với hình ảnh nào, lý tưởng nào để phấn đấu, để sống và chết như “một người anh hùng”?

Riêng những người miền Bắc mà Th đại diện đã vì một từ rất gọn là “Đảng”. Đất nước là Đảng. Đồng bào cũng là Đảng. Th ra đi vì đất nước, vì đồng bào tức là vì Đảng. Không đạt được thẻ Đảng tức là sự phấn đấu chưa có còn tệ hơn thi rớt đại học. Hiểu như vậy mới đọc nổi những lời của Th như tuyên truyền về Đảng đến trang cuối cùng. Nếu không, người đọc sẽ gấp sách lại từ những trang đầu. Th đã dằn vặt vì sự phấn đấu đó. Th đau khổ nói với chị Phượng hôm chia tay: “Chị ơi, đến hôm nay em vẫn chưa là Đảng viên, buồn đến vô cùng”. Nếu câu này nói trong thời buổi hôm nay, chắc sẽ làm người “bái bai” Đảng cười ra nước mắt nhưng thời điểm đó Đảng là mục tiêu. Thời phong kiến có chuyện “Vinh quy bái tổ”. Thời buổi giao thời mong lấy mảnh bằng cử nhân. Người tri thức nhắm vào học vị tiến sĩ, giáo sư… Người đi cách mạng không nhắm vào “Đảng” thì nhắm vào cái gì “oai phong” hơn uy dũng Đảng?

Với thể loại nhật ký, tâm lý nhân vật dù sao cũng không phức tạp so với thể tự sự (truyện ngắn và tiểu thuyết). Thế nhưng, ta vẫn thấy nhân vật Th cứ mãi trăn trở, bức xúc vì một từ Đảng này. Cũng như nhân vật Thạc, anh chưa là ”cảm tình Đảng” vì lý lịch của anh. Anh gián tiếp ý này bằng câu: ”cùng là hai người không hề khác gì nhau về bản thân nhưng lý lịch trong sạch, nhất là đỏ thực sự, là khác rồi”. Chính vì vướng mắc chỗ lý lịch này mà “anh Thục cảm tình Đảng từ lâu rồi mà chưa được kết nạp” (Anh Thục là anh trai Thạc).

Với Th hay Thạc hoặc những người tương tự, bao nhiêu người đã vào Đảng, bản thân mình ai cũng cho “xứng đáng là một người Cộng sản” mà Đảng không ghé mắt dòm cho! Buồn ủ rũ cũng phải. Tâm lý này của Th, của Thạc cũng là tâm lý chung của một lớp người “bất đắc chí” nghĩa là: Thành quả của mình cũng giống như người khác, thậm chí hơn hẳn họ nhưng kết quả “sau cuộc bình bầu”, mình vẫn là con số không. Một trứng ngỗng như trêu gan như cười cợt. Tức ói! Th đâu có hiểu rằng: Tài ba là một chuyện. Cất nhắc là một chuyện khác.

Nguyễn Trãi đệ nhất công thần mà cũng không được Lê lợi cất lên cái tước “Công” nên chỉ ở mãi tước “Hầu” và đầu rơi khỏi cổ. Tần Cối giỏi giang gì trị nước mà cũng làm chức thừa tướng “dưới một người, trên vạn người” đưa Nhạc nguyên soái Nhạc Phi vào tử tội? Lịch sử nước nào mà không thiếu kẻ ”mượn oai hùm để rung cây nhát khỉ”! Những người hiểu biết chuyện, tất bỏ cuộc. Th thì không. Th bám víu tới cùng, quyết tâm phải đạt bằng được mới thôi. Th có lý lẽ riêng của Th. Hãy nghe Th chắc nịch giải thích: “Khi đã giác ngộ quyền lợi của giai cấp của Đảng thì suốt đời sẽ gắn bó với sự nghiệp ấy”. Quyền lợi nào mà Th đã bị “quấn” lấy cho đến chết như vậy? Tự mình cột chặt mình vào Đảng rồi còn gì! Thạc cũng đã tự bảo mình: ”sống trọn vẹn cuộc đời mình cho Đảng, cho giai cấp” anh cảm thấy “hổ thẹn với Paven, Palolux thân yêu. Mình chưa phải là Đảng viên” (ngày 24.12.71). Giai cấp của Th là ”tiểu tư sản”, của Thạc là ”tiểu chủ”. Vậy, Th và Thạc đấu tranh và sống chết cho giai cấp nào? Cả hai nhân vật này chưa có ai xác định rõ ràng mà đi thì đi, chiến đấu thì chiến đấu. Lý giải chưa xong về đấu tranh giai cấp thì bám vào Đảng mà đấu tranh vì Đảng.

Th đã lý giải cho sự ra đi của Th: “Chỉ có nhiệm vụ của Đảng, người ta mới đi xa như vậy” nhưng Th cũng quên mất rằng: Vô số thanh niên cùng ra trận như Th đâu có phải hầu hết họ tự nguyện, tự trói mình vào Đảng mà chính Đảng đã cho họ “uống thuốc bổ”, đã cột họ vào mà chỉ có Đảng mới có thể gỡ được sợi dây trói đó thôi. Đảng có lý luận riêng của Đảng: Quyền lợi của Đảng gắn liền với quyền lợi dân tộc.Yêu nước mà tách mình ra khỏi Đảng tức không làm tròn bổn phận của người công dân. Cho nên, đoàn giải phóng quân chỉ biết tiến chớ không biết lùi là vậy. Một cách hợp thức hoá quyền lợi riêng của một nhóm thiểu số vào quyền lợi chung tập thể được thời đại cho phép, không tách ra được.

Yêu tổ quốc có nghĩa là… yêu Đảng. Cho nên, những trang viết về lớp người tự đến với Đảng mà hy sinh, hầu hết tác giả phải để cho nhân vật mình… nổ một tiếng pháo tống trong giờ phút chót là gọi tên “Bác Hồ”, gọi tên “Đảng” với hai chữ “muôn năm” âm vang như kéo dài vô tận! Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi (nhân vật hư cấu) đều như vậy cả. Không có những câu đó, không viết được những trang về sự giác ngộ cách mạng, giác ngộ Đảng, tác phẩm và nhân vật không được xếp vào trang “thiên anh hùng ca ngàn năm sáng chói lưu danh đến muôn đời”. Nhân vật Th không theo lý tưởng Đảng xuyên suốt tác phẩm, thẩm thấu qua từng trang nhật ký, ắt cuốn sổ này chỉ có giá trị như mớ giấy lộn mà thôi! Một con người như Th thiết tha với Đảng như thế quả “hiếm hoi” cho sự trung thành này. Làm người của một chế độ nào thì phải trung thành với chế độ đó mới là bậc tôi trung như quan niệm ”Tôi trung không thờ hai chúa”. Xét về chữ ”Trung” mà luận như thế thì thà không có chữ ”Trung” này để cuộc đời còn chút nhân đạo hơn.

Thế nhưng, Đảng mà Th ước ngày, mơ đêm kia xa vời quá. Tại sao Đảng như Tố Hữu miêu tả thần thông quảng đại: “Trăm tay nghìn mắt” như Phật Quan Âm, “mình sắt da đồng” như thần Asin vậy mà không đủ phép rọi thấu vào trái tim của một người con gái “xứng đáng là người cộng sản” lại không được Đảng “xoa dầu” một chút gọi là an ủi? Nhưng Th là một người hiểu biết lý lẽ “mặt trời bị mây mù che khuất” nên dù có “trăm tay nghìn mắt” cũng không làm gì được. Đảng trong Th đã không còn “mẫu mực lý tưởng”, tinh khiết một trăm phần trăm như Th đã thần tượng nữa. Gót chân Asin của Đảng đã bị Th điểm trúng: Đó là sự thiếu sáng suốt, thiếu công bằng! Th viết: “Những sự thiếu công bằng vẫn còn trong xã hội, vẫn diễn ra hằng ngày, vẫn có những con sâu, con mọt đang gặm dần danh dự của Đảng, những con sâu mọt ấy nếu không bị diệt đi nó sẽ đục khoét dần lòng tin yêu với Đảng. Rất buồn mình chưa được đứng trong hàng ngũ Đảng để đấu tranh tới cùng. Có lẽ vì thế mà những người đó chần chờ không dám kết nạp mình”.

Những câu văn trên đầy hình ảnh ẩn dụ cho ta thấy rõ ràng có một loài “sâu mọt” (những người trong Đảng) “đục khóet, gặm dần danh sự Đảng”. Th đã có cái nhìn vượt tầm thời đại mà sau mấy chục năm các nhà chí sĩ đấu tranh như: Các đại công thần Võ Nguyên Giáp, Trần Độ… các nhà chính trị như Hà Sĩ Phu, giáo sư Hoàng Minh Chính, bác sĩ-thạc sĩ Phạm Hồng Sơn, nhà giáo Nguyễn Khắc Toàn, ký giả Vũ Bình, luật sư Lê Chí Quang, giáo sư Nguyễn Đình Huy, nhà thơ, văn Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Trần Trung Đạo, đại tá nhà báo Phạm Quế Dương… cũng chỉ có chừng đấy để nói, để tranh luận! Với cách nhìn, cách nghĩ này nếu bây giờ có ai muốn “noi gương chị Th” thì hãy học tập như Th: “chú ý sâu mọt” đừng “quơ hết nắm đũa mà bảo có mọt, có sâu”. Ở đâu cũng vậy thôi.

Ta nghiệm ra cách nhìn rất thực về nguyên nhân sinh ra mọt, sâu. Nếu mọt là chuyên gia “ăn luồn”, sâu bọ thì ”chuyên nghiệp” cắn phá. Đằng nào cũng là lũ côn trùng phá hoại, cần tiêu diệt. Con sâu thích ăn lá xanh. Con mối thích gặm gỗ tốt. Con người “ghen, kỵ” tài năng sinh ra mối, mọt. Té ra chỉ vậy: Ghen tị, ganh ghét, kị tài như kiểu ‘‘tài mệnh tương đố” nhưng ”tài mệnh tương đố” trong Truyện Kiều là tài mệnh của một thế giới vô hình có phép màu khác với sự kỵ tài của thế giới con người không muốn cho người có tài năng, có tri thức, có đức độ bước vào chốn “thiên đường” của họ. Chốn thiên đường tanh mưa máu thì chỉ còn là trần gian địa ngục. Có ai thèm đấu tranh trầy da tróc vẩy chỉ để được vào địa ngục trần gian? Trong ”Nhật ký ĐTT” cũng có cảnh địa ngục nhỏ bé mà nhân vật Th đã nhìn ra.

Giá trị hiện thực của nhân vật nằm ở chỗ những câu kết luận rất “Đảng” này (đấu tranh và mức độ đấu tranh của nhân vật). Th từ lò luyện “Thép đã tôi thế đấy” mà ra. Lò luyện đó của Đảng. Lời nhận xét của Th cũng là lời nhận xét của Đảng vậy! Đó cũng là lời phê và tự phê “chích” vào cái mụt ghẻ đã ung mủ. Những ung mủ đó được Th chỉ rõ là chúng “đang tung hoành trong đội ngũ cán bộ của bệnh xá”. Khá khen thay, Th đã trang bị cho mình không phải bằng mắt thần chủ nghĩa bị “vô hiệu hóa” bởi những màng đen mà mượn tạm đôi mắt thần Dương Tiễn. Đôi mắt này mới là “kính chiếu yêu”, rọi một cái đã lòi ra… “yêu quái”. Thủ đoạn “hạ độc thủ” nhau trong Đảng, Th đã vạch rõ giữa kẻ mánh khoé và những người chân thật: “Dù anh có chân thật” thì cũng bị những kẻ “dùng mánh lới khôn khéo, lừa đảo anh để giành cướp với anh từng chút uy tín, từng chút quyền lợi có khi nhỏ nhặt như miếng ăn, đồ vật”. Lời chỉ trích như câu “kinh” Người, Th đã ném xuống một câu chắc nịch: “Đời vẫn có những người ti tiện nhỏ nhen”.

Người đọc như tỉnh cơn mê. Không nói chi đâu xa, ngay trong những người văn nghệ sĩ “lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa” “hạ độc thủ” bằng tuyệt chiêu “mềm mại” này. Tố Hữu cậu vung tay… mềm mại, Phùng Quán cháu… tù mọt xương. Xuân Diệu “như yêu mãi ngàn năm không thỏa”… yêu…Văn Cao khốn đốn cho người viết quốc ca lừng danh này mấy năm còng số tám. Một nhóm anh em đêm “chén thù chén tạc”, sáng mai danh sách 122 văn nghệ sĩ do thằng “anh em” cung cấp được công an hốt trọn không chừa một tên… nối dòng (Nguyễn Vy Khanh ”Những thăng trầm của VHVN 30 năm qua ”- Báo “Ngày nay-Minnesota”-số 382, ngày 1/5/2005). Chao, đời không thiếu kẻ “hèn hạ, ti tiện” như Th nói. Trong cổ tích, Lý Thông đã mang đứa em kết nghĩa cho chằn tinh ăn thịt, đã xô Thạch Sanh xuống hang để tranh công, đoạt lợi. Bên Tàu, Bàng Quyên… đói tài của nguời sư đệ mà… xơi luôn hai khúc chân của Tôn Tẩn! Th vẫn còn may mắn hơn cả những người từ cổ chí kim và đủ phép màu nên “tai qua nạn khỏi” hơn cả người trong cổ tích. Nhân vật này thần kỳ còn hơn hai chữ “thần kỳ”!

Đấy mới đúng là thế giới con người. Trong “Kinh thánh” (Cựu ước và Tân ước) của United Bible Societies, trang 610, 782 có đoạn: “Ông gài bẫy các lời mình cho đến chừng nào… Thật ánh sáng kẻ ác sẽ tắt đi. Ngọn lửa của hắn không chói nữa… Chánh các mưu chuớc người sẽ đánh đổ người.. Cái bẫy sẽ thắt hắn nối gót chân và dò lưới sẽ bắt nó. Ta thấy mọi công lao và moi nghề khéo là điều gây cho người này kẻ khác ganh ghét nhau. Kẻ ngu muội khoanh tay, ăn lấy thịt mình.”. Người khác “ăn lấy thịt mình” còn Th thì không. Th đã nhẫn nại, tự vệ bản thân để vì một chọn lựa duy nhất: Vào Đảng. Chị Rùa chậm chạp mà siêng năng cuối cùng đã đến đích trước chị Thỏ nhanh thoăn thoắt mà biếng lười thêm tính “khinh thường địch thủ”. Đảng đã… hé con mắt thần quét qua luồng mây đen u ám. Tia nhìn xéo ấy đã thấy rõ lòng Th khao khát Đảng như cỏ khô đợi trận mưa rào. Thế thì bủn xỉn gì nữa mà không gọi Long Vương kéo mây làm mưa thể theo ước nguyện?

Thế nhưng, một tâm lý kỳ lạ đã xuất hiện trong Th. Một mâu thuẫn tâm lý. Một mâu thuẫn lương tri đã nảy sinh khi người ta đạt được cái đích ở cuối đường đua quá mệt mỏi nên tầm thường hóa mục đích. Nhân vật Th đã phát giác cảm nhận mình khi được “bỏ nhỏ” viết đơn xin vào Đảng: “Viết đơn xin vào Đảng, niềm vui thì ít mà bực dọc thì nhiều”. Đó là nét tâm lý của hầu hết những người được đoái hoài, chiếu cố sau thiên hạ chẳng hơn mình cái gì. Mặc dù Th nhủ thầm: “Phải phấn đấu để sống xứng đáng với cái tên ‘một người cộng sản‘ ” nhưng lòng Th rã rời theo một tâm sinh lý khác. Lẽ ra, Th phải sung sướng phát khóc lên như khi Bác Hồ tìm ra “Luận cương Lenin” mới đúng. Vậy mà Th đã nghe như thản nhiên: “Còn niềm vui, sao quá nhỏ với ý nghĩa của ngày vui. Vì sao vậy hở Thùy? Phải chăng hôm nào Thùy đã nói: như một đứa con khát sữa mẹ khóc đã mệt rồi, miếng sữa nuốt vào không còn nguyên hương vị thơm ngon và cái thú vị của nó nữa.”. Nghĩa là “Trước không thảo sau bà lão hổng thèm” đấy thôi! Một sự hờn lẫy bé thơ! Lứa tuổi như Th đã mấy ai viết ra nổi một câu so sánh ví von đầy hình tượng mang một giá trị triết lý sống của cuộc đời như vậy? Nó ứng cho tất cả mọi người với mọi trường hợp. Niềm ao ước, nỗi khát khao, cơn đói bụng cạn cùng, rã ruột mới nhận được sự bốt thí hay ân sủng quá muộn màng. Lời cám ơn hầu như vô nghĩa. Trái cây ngon ăn lúc tầm vừa chín. Khế ngọt lại ăn lúc dập bầm. Ngon lành gì nữa mà không ói mửa hết ra, cố nuốt chi vào đến nổi không còn cảm giác! Nhu cầu con người cần sự quân bình giữa cung – cầu, ứng – nhập. Cầu không có. Nhập đắn đo. Chết rũ rượi mới gọi xe cấp cứu. Tàn nhẫn quá! Tâm sinh lý này, Th còn gặp phải trong tình yêu của M.(người yêu của Th) một lần nữa.

Trước đó, Th là người vô tư, tin Đảng với niềm tin ngây thơ, nghĩ về Đảng như một câu chuyện cổ: “Muôn người đã tạo nên một người mẹ hiền vĩ đại là Đảng nhưng trong muôn người mẹ ấy có một người mẹ y hệt một bà mẹ ghẻ trong câu chuyện cốt tích”. Ta liên tưởng: “Mấy đời bánh đúc có xương. Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng.” trong “Tấm Cám”, “Cô bé lọ lem”, “Công chúa Bạch Tuyết“… Nghĩ mà tức cười. Cuốn nhật ký này may mắn hơn nữa là không lọt vào người “mẹ ghẻ” hay “đám sâu, mọt” sớm, nếu không, Th sẽ bị nhốt lại trong lâu đài mà chờ hoàng tử đến giải cứu cho mãn kiếp.

Nhân vật Th tuy hờn lẫy “món quà” to lớn, đầy ý nghĩa của “mẹ ghẻ” nhưng vẫn hai tay cung cúc đỡ lấy trong sự kính cẩn muôn phần. Một đạo “thánh chỉ” ban ra, kẻ chuẩn bị nghe luận tội hay nhận ban thưởng đều buộc phải “quỳ” xuống tiếp chỉ và tung hô “vạn tuế”! Biết làm sao! Nội tâm được giải tỏa. Tâm hồn căng thẳng vì từ “Đảng” kia cũng được “giãn” ra sau khi được kết nạp Đảng, Th không còn dằn vặt nhiều và vì vậy, ta có thể thấy rõ những trang nhật ký tiếp, Th đã tiêu hao khả năng nhận xét khá “chính xác” và “bất hủ” về Đảng nữa. Tuyệt vời thay kế sách “cắt đất, phong Vương” để xoa dịu lòng hờn lẫy hoặc nổi loạn của người dân mà triều đại đi trước đã làm, triều đại sau sao không thấy noi gương? Cũng có thể, nhân vật Th khi vào hàng ngũ Đảng rồi thì đã “phun thuốc” diệt sâu, diệt mối như Th đã từng nhủ thầm “sẽ đấu tranh đến cùng nếu được vào Đảng”? Lẽ nào có Th rồi, “mẹ ghẻ” công bằng hơn? Hay Th khi đã được mãn nguyện, thỏa lòng ước mơ, mục đích cá nhân “vào Đảng” đã xong xuôi thì những gai góc trong lòng coi như được Đảng nhổ bỏ nên không buông lời oán trách nữa? Bằng cớ là Th đã bắt đầu…thương “mẹ”: “phải chăng vì mình đã là người của Đảng nên đã về sống trong lòng mẹ” (người mẹ mà lúc chưa được kết nạp Đảng, Th đã gọi là “mẹ ghẻ”). Tức là “đã cùng một nhà ai đi vạch áo cho người xem lưng!”. Sự đấu tranh của nhân vật Th như chửng lại khi được vào Đảng.

Nghĩ cho cùng, suy cho cạn, Th dù sao cũng chỉ là một người con gái bình thường như những người con gái khác. Không đòi hỏi gì thêm nữa chứng tỏ lòng không mắc một chữ “Tham”. Không muốn tham gia đấu tố, truất phế đồng nghiệp, đồng chí, đồng đảng, Th không vướng chữ “Sân”. Không ganh ghét, “nhỏ mọn, ti tiện” như những người khác, Th không có chữ “Si’. “Tham, Sân, Si”: chính là cạm bẫy con người, là thiên đường và địa ngục của nhân loại. Thoát ra khỏi thiên đường và địa ngục, Th thoát ra cái bẫy nhưng làm sao qua nổi cái ải làm người. Vậy thì cái ‘tôi” cá nhân xuất hiện, sự đấu tranh bùng nổ. Nếu Th được cất nhắc, được Đảng quan tâm, hiểu lòng thì Th biểu vui mừng ra mặt (con về với mẹ) còn như gặp “chút va chạm ngọt ngào” giữa các đồng chí thì Th… chửi cũng ra trò người “mẹ ghẻ” này: “Não bộ cũng có những điểm sáng ngời thông minh đẹp đẽ, mà còn có những điểm đen sì tăm tối những ý nghĩ đớn hèn”. Câu nói này mà lọt ra đến tai ”mẹ ghẻ” thời ấy, Th chỉ còn ngồi làm Tấm nhặt thóc cho hết đời. Biết chừng nào Đảng mới “thanh lọc” hết “những não bộ đen sì tăm tối, đớn hèn” trả lại sự “trong sạch” của Đảng mà Th hết lòng tôn kính đây? Nhìn thấy được Đảng có hai mặt, hai con người đối lập, chỉ có nhân vật Th trong ”Nhật ký Đặng Thùy Trâm” mà thôi!

Xét về phương diện giá trị nhân vật, Tnú của Nguyên Ngọc trong “Rừng xà nu” còn thua xa nhân vật Th về tầm nhận thức mặc dù Th gặp Đảng cũng như Tnú gặp “người Đảng”. Tnú vui mừng nhưng Th vừa mừng vừa thấy mặt trái của đứa con thèm sữa mẹ lâu quá, đói… xỉu!. Thời chiến tranh, Đảng và văn học gắn liền nhau thắm thiết về nội dung chứ không tách rời hai hướng đi như sau những ngày mưa bom, bão đạn.

Một thời chiến tranh là thời của thơ Hồ Chí Minh với “Nhật ký trong tù” (còn nhiều nghi vấn về biên tập như ”Nhật ký Đặng Thùy Trâm”) và thơ Tố Hữu với năm tập thơ “Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Việt Nam máu và hoa”. Thời kỳ đăng quang của Tố Hữu rực sáng như ngọn đuốc sống Lê Văn Tám (tiếc thay, ngọn đuốc sống này cũng chỉ là “đuốc ma” trong sự nghiệp sáng tạo có chỉ định từ Đảng của giáo sư Trần Huy Liệu). Nhưng công bằng mà nói: Dù hôm nay, Tố Hữu đã từ lâu không còn được “ân sủng’ của hoàng thượng, cũng tơi tớt như những vị “khai quốc công thần” Trần Độ, Võ Nguyên Giáp; dù Tố Hữu là kẻ gián tiếp đưa văn học Việt Nam thụt lùi tận ba mươi lăm năm với vụ tai tiếng ”Nhân văn – Giai phẩm” thì Tố Hữu vẫn được coi là “con chim đầu đàn” của bộ phận thơ ca chống Mỹ. Th hy sinh trước ngày Tố Hữu thất sủng nên không thấy được “con chim đầu đàn” kia gãy cánh, lê lếch về nguồn cội với tiếng hót cô đơn bên cây đờn cò ân hận. Vinh quang tuổi trẻ và lận đận tuổi già đối với những ”khai quốc công thần” thời nào cũng như nhau. Chiếc cầu ấy rồi đây những công hầu khanh tướng cũng phải đi qua khi ”hết thời cỡi ngựa bắn cung”. Lẽ đời đó mà!

Th đã được nhà trường xhcn trang bị tận chân răng, kẻ tóc về một đường lối cách mạng tươi sáng. Cho nên, trong những va vấp với đồng nghiệp ở bệnh xá Đức Phổ nhỏ nhoi, những tiếng ong ve với đồng chí cùng địa bàn, Th phải bám víu vào Đảng. Người “mẹ ghẻ” xuất hiện với… chiếc roi cá đuối trên tay. Th lại buông phao Đảng mẹ, bám lấy phao ”tâm hồn” cho khỏi hết đuối! Đó là chiếc phao văn học mà đại diện là Tố Hữu. Tố Hữu quả là ân nhân của Th trong hoàn cảnh buồn đến nản lòng. Tiếng hót của con chim đầu đàn Tố Hữu thời đó quả có công lực thu hút hết những nản lòng của con người và thổi vào tâm hồn họ luồng sinh khí cách mạng bất tận. Th ôm lấy thơ Tố Hữu làm lá chắn: “phải đọc và hiểu sâu sắc lời Tố Hữu mới không bi quan trước cảnh này” (là cảnh nào nếu không là cảnh bom đạn, ganh tị như đêm kỵ ngày như nắng kỵ mưa?):

Ai chiến thắng không hề chiến bại

Ai nên khôn không khốn một lần.

Bài ”Dậy mà đi” của Tố Hữu, không biết ai phổ nhạc mà điệu đàng hay ghê hay gớm. Nó như một lời khích lệ, vỗ an con người khi nản chí, chùn lòng. Nó hay chỗ nào thì cứ hát theo chỗ ấy. Lời thơ, ý nhạc tự nó trang bị cho nó hai đôi tay: Tay này bắt, tay kia che mắt. Không như thế, nó chết yểu đời nào. Nếu Th còn sống đến hôm nay, lý tưởng và niềm tin chắc nụi của Th về Đảng sẽ làm cô “khốn đốn” mười lần vì dám khẳng định rằng: “Những người quanh mình ghen tuông kèn cựa nhưng lại cố cho rằng họ là tốt, họ là khiêm tốn…”. Bấy nhiêu sự “giác ngộ” đó cũng đủ làm Th bị “đánh mòn roi da”. Nhưng chúng ta thử nhìn lại: Trường hợp của Th đi B diễn ra suông sẻ và may mắn hơn những kẻ “phận bạc” khác. Nhân vật chồng Nụ (“Phận bạc”-Võ Tiến Dũng) khác Th. Chồng Nụ vì không muốn vào Đảng mà “phải chuyển xuống lao động”. Kết quả xảy ra cho chồng chị: “Không vào Đảng thì vào chiến trường”. Té ra, chiến trường là nơi chứa kẻ Đảng và không Đảng, tự nguyện hay bị đẩy vào, tự giác hay không tự giác! Hỗn độn như thế sao không ”thanh lọc”?

Tiếng nói của một tư tưởng Đảng Marx-Lenin và phát ngôn viên cho một chế độ xã hội chủ nghĩa: “Chết mà giữ mãi cái cao quý của trái tim một người cộng sản, một con người chân chính” đã tắt. Những người cộng sản như Th đã hiếm hoi trong hàng ngũ Đảng hôm nay. Đó là một điều đáng tiếc. Th đã nói nhiều về Đảng: Ca ngợi tới bến, chỉ trích đến cùng. Đảng cho in sách nhật ký của Th thì chính Đảng đã thừa nhận những gì mà Th đã viết. Đây là sự ”dọn đường” cho hươu chạy. Th nhận xét về Đảng như vậy còn về mình thì như thế nào? Th đã quan niệm: “Sống ở đời phải biết khiêm tốn”. Th đã thực hiện quan niệm đạo đức rất chính đáng đó trong tác phẩm ra sao?

2. Th: Nên hay không nên tự cho điểm mình?:

Nhật ký là ghi chép mỗi ngày nhưng “Nhật ký Đ.T.T” không phải lúc nào cũng ghi đầy đủ. Vì không giống như một thể loại truyện, tiểu thuyết hư cấu nhân vật, giải quyết vấn đề với những xung khắc lên đỉnh điểm nên nhật ký chỉ được phép xoay quanh nhân vật đó sống và trải qua.

Trong “Nhật ký Đ.T.T”, nhân vật Th đã nói khá nhiều về ưu điểm của mình và tự cho điểm mình qua hai cách:

a. Tự cho điểm trực tiếp:

Tức là nhân vật Th đã đề cao cái “Tôi”. Cái “Tôi” cũng có thể hiểu có hai dạng: Một là cái “Tôi” có tài năng. Hai là cái “Tôi” tự cho mình giỏi, mình đúng. Khi nói về tình yêu, trách M., Th đã nói thẳng nhiều lần: “Nỗi lòng một cô gái đầy ước mơ hy vọng mà không được đáp lại một cách xứng đáng. Anh đâu có xứng với mình.”. Tội danh “không xứng” của M. đã không đuợc Th nêu rõ và “tai bay vạ gió” này không biết từ đâu mà có? Th đã luôn luôn tự hào mình là: “Đứa con gái giàu mơ ước yêu thương… Tại sao mình rất xứng đáng là một Đảng viên mà chi bộ không kết nạp. Tại sao mọi người thương mến cảm phục mà Đảng lại khắt khe hẹp hòi đối với mình?”.

Nhân vật nhật ký đã thành nhân vật ghi toàn cảm nhận tốt đẹp hoàn hảo về mình. Nhưng “nhân vô phục hoàn”. Đâu có ai không có những khiếm khuyết. Với Th, khuyết điểm cũng là ưu điểm. Nội cái việc Th nhắc đi, nhắc lại thành phần xuất thân của mình là “tiểu tư sản” (ngứa mắt bọn sâu mọt) là trở ngại lớn trên con đường vào Đảng mà Th không hề nghĩ tới. Th tự hào: “Tâm tình một đứa tiểu tư sản bao giờ cũng phức tạp… khi mình được hòa khắp trong mọi tầng lớp nhân dân”. Th nghĩ không sai. Bản thân giai cấp nào có tội tình gì! Đánh giá một con người phải nhìn vào đóng góp gì cho đất nước chứ nào phải nhìn vào lý lịch xuất thân. Th vô tư trong quan niệm giai cấp là tốt đẹp. Đúng là cái nhìn của trí thức cấp tiến so với trí thức lỗi thời, bảo thủ. Nghiệt thay! Nhân vật lại nằm trong thời đại. Giai cấp nằm trong chế độ. Chế độ xhcn là chế độ: Xóa bỏ giai cấp. Cho nên, mới có máu chảy đầu rơi với chủ trương “cải cách ruộng đất” (1953 – 1956): “trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc trận rễ”… mới có đường lối ”sửa sai” nhưng sửa cách đánh giá con người qua lý lịch thì tới nay, Đảng không dám sửa. Cũng như ”đổi mới”, đổi mới mọi thứ nhưng đổi kẻ chống tham nhũng lại chỉ thay kẻ tham nhũng này bằng kẻ tham nhũng khác. Đảng cũng… uống thuốc nhức đầu liên tục chứ sao không!

Th vào Đảng và vì Đảng đang rất cần những con người dám xả thân như Th trên chiến trường. Thế nhưng khi mâm cổ dọn ra, người ngồi vào phải biết tôn ti trật tự. Người ta lại bắt đầu mở trang lý lịch và xướng danh… Th sẽ là người thứ mấy ung dung bước vào tiệc ”Bàn đào” của Lê Sơn Thánh Mẫu ?.

Tuy nhiên, bản thân mình tốt, xấu thì tự công việc, tự nhân cách mình nói lên được. Th hình như đã lên tiếng khá nhiều về cái tốt của mình. Đọc nhật ký Th, có người không chịu nổi cứ bấy nhiêu ca tụng mình lập đi lập lại nhàm chán nên… úp sách.

Hành động Th săn sóc thương binh, đồng đội, đồng nghiệp và cùng lăn lê bò toài với họ, cùng nhỏ nước mắt với họ thì người đọc tự hiểu: Th là con người rất giàu lòng nhân ái, yêu thương lan tràn và con người rất cần sự thương yêu tràn lan đó. Cho nên, Th không cần động bút ghi: “Mình rất giàu tình thương với tất cả mọi người”. Câu tự bạch này đã quay lại “điểm huyệt” Th: Vậy, tại sao Th không nghĩ rằng người đối nghịch với Th cũng “rất giàu tình thương”. Th khóc đồng đội nhưng Th không hề biết cảm giác bên kia trận tuyến cũng có người hết nước mắt vì bạn bè, thân thuộc. Không ai có lòng thương người chỉ một chiều mà tự hào như vậy?

Người đọc còn nghe mãi tiếng rên rĩ của Th: “Có ai hiểu được lòng tôi không? Lòng của một cô gái giàu lòng thương yêu, rộng lượng trong tình cảm, đồng thời cũng rất khắc khe và đầy tự ái trong vấn đề đó.”. Đã “rộng lượng” sao còn “khắt khe”? Một tình cảm đầy mâu thuẩn. Cách úp mở của nhân vật Th khiến người đọc nhiều khi không hiểu nhân vật này ngoài sự hờn dỗi vào Đảng còn có cái gì nữa mà Th không viết ra? Nhật ký chứ đâu phải là hư cấu nhân vật mà chờ gần cuối mới bung ra cách giải quyết?

Th cứ mãi kêu thầm: “Cô gái giàu lòng yêu thương kia ơi” và “hỡi cô gái đã từng biết xử trí một cách đúng đắn trong mọi tình huống khi mà cuộc sống tình cảm diễn ra phức tạp.” Nhưng người đọc cũng chưa hề có vinh dự được Th chia xẻ sự “xử trí đúng đắn” đó như thế nào trong “tình huống” gì? Những lần họp “chỉnh huấn Đảng”, nội cái câu nhận xét của cán bộ về Th “Chăm lo cải thiện đời sống cán bộ còn yếu” và “tính tiểu tư sản còn” thì làm sao Th có thể hòa mình với mọi người mà thương yêu họ như Th tự nhận xét? Bản thân Th không rút tỉa được điều đó. Th luôn tự hào là “cô gái giàu nghị lực và ý chí” để trở thành “cán bộ có nhiều thành tích trong công tác”? Từ “thành tích” mà Th dành cho cô đã vô tình hạ mục đích cao cả của Th xuống một cấp!

Kết lại, về phương diện nói về cái “Tôi”, nhân vật Th tuy đã cho điểm về mình hơi nhiều nhưng ta không phủ nhận Th có nhận xét rất xác đáng về mình. Tình yêu thương con người của Th được coi như là của một kẻ trên nhìn xuống kẻ dưới: “Tình thương của một kẻ đứng trong căn phòng ấm áp nhìn một kẻ đi giữa giá lạnh” khi Th nhìn nỗi buồn của cô gái người yêu của Thuận chứ không phải là tình thương của một người đồng cảnh ngộ. Đó là một nhược điểm giai cấp của một nhân vật khi ta xét nhân vật đó với giá trị nhân đạo. Nhưng thực sự nhân vật này đã vì lý tưởng mà hy sinh, vì mảnh đất mà mình có bổn phận bảo vệ như một công dân mà bỏ mình chứ không vì Đảng. Đảng chỉ của một số người chứ không phải của mọi tầng lớp nhân dân. Điều đó đã lý giải tại sao có “đa đảng” trên thế giới.

Một người con gái như Th dĩ nhiên, ta tin chắc rất được nhiều người thương mến (Nhân vật nhật ký tự nâng giá trị mình lên qua lời lể của mình khác với nhân vật truyện ngắn, tiểu thuyết qua tay tay tác giả bằng hành động nhân vật). Th cũng đã đưa những lời nhận xét ấy cũng là lời tự kể của mình vào nhật ký như một bằng chứng tất nhiên.

b. Điểm tốt của Th qua gián tiếp: (Có thể chấp nhận):

Trước hết qua nhân vật Hường: “Khen ngợi, động viên mình, ca ngợi mối tình chung thủy của mình” hay qua lời của Thuận: “Đời em chỉ thương và phục nhất về hai người về cách sống, đó là anh Long và chị” (Long là cán bộ cấp trên của Th).

Như đã nói ở phần “a”: Trong văn viết kiểu truyện ngắn, tiểu thuyết, tác giả là người có quyền “cho điểm” hay “lột lon”, “giáng cấp” nhân vật mình xây dựng (tốt, xấu, chính diện, phản diện). Trong văn nói, người nói có quyền “tự cho điểm” mình gọi nôm na “nói dóc, quẫy đuôi…” cho đời thêm nụ cười rồi cũng thôi vì “lời nói gió bay”. Cái câu “hữu xạ tự nhiên hương” là một cách đánh giá con người.

Ở Th, Th phải cần có nhiều người khen ngợi: “Hầu như tất cả mọi người đều nói Trâm rất xứng đáng là một người cộng sản”. Những câu khen ngợi của Khiêm của Thuận dành cho Th xét kỹ ra là một sự cho điểm xứng đáng. Chỗ đứng của Th trong họ Th là một người mà họ “Thương yêu cao cả nhất cuộc đời”. Tình cảm cá nhân xây dựng trên tập thể này đáng trân trọng dù tự cho điểm trực tiếp hay gián tiếp.

Nhân vật M gián tiếp qua Th cũng đã nói: “Th có tình yêu đắm say mãnh liệt thủy chung và nhiều tự trọng” nhưng tại sao giữa họ có sự đổ vỡ thì không hiểu nổi. Có lẽ vì ”điện từ cùng dấu” thì đẩy nhau?

Khen ngợi để như để được tiếp sức, ta nên dành cho Th khi đọc toàn bộ nhật ký, khi nhìn lại một góc ngôi mộ khu nghĩa trang Từ Liêm – Hà Nội- nơi yên nghĩ nghìn thu của một người con gái lắm thương yêu, nhiều thù hận. Còn lời khen muộn màng, tốt hơn là làm một điều gì đó tốt đẹp cho đời hay im lặng. Im lặng cũng là một cách biểu hiện một thái độ đó thôi!

Trong những lời chỉnh huấn Đảng dành cho Th, ngoài lời khen chê chung chung dành cho ai cũng được, có một điểm không phải ai cũng được dùng. Đó là nhận xét về trình độ chuyên môn của Th bởi vì công tác của Th là công tác của một bác sĩ từ Hà Nội xung phong vào Nam. Đó cũng là nội dung thứ ba khi phân tích nhân vật Th với tư cách là một nhân vật nhật ký.

3. Th: Một bác sĩ xhcn có lương tâm:

Nhân vật Th là bác sĩ, có nghĩa là lời tuyên thệ trước tổ sư ngành y: Hippocrate, Th đã làm: Trọn đời cống hiến cho nghề thầy thuốc có lương tâm.

Trong đời thật, Th là bác sĩ khoa mắt. Trong tác phẩm, Th là bác sĩ quân y không chuyên khoa nào. Những trăn trở của một vị nữ bác sĩ mới ra trường trong điều kiện ở chiến trường lửa đạn nhiều hơn thuốc men và máu chảy nhiều hơn serum chảy là tất nhiên. Chỉ một ca mổ ruột thừa không tìm ra nguyên nhân nhiễm trùng đã làm cho người bác sĩ kia ray rứt: “Với những người như anh mà tôi không cứu chữa được thì đó là một điều đau xót khó phai trong cuộc đời phục vụ của người thầy thuốc.” Đó là sự đau xót chân thật, có lương tri.

Th là bác sĩ và cũng là chiến sĩ. Chữa trị và bảo vệ đi đôi với nhau. Khi Mỹ đổ bộ vào Đồng Răm ngày 2.4.69, mọi người lo di tản.Trạm xá lại thiếu người di chuyển thương binh nhưng Th nhất quyết: ”Không thể bỏ thương binh lại được, phải hết sức mình khiêng thương binh, các đồng chí ạ”. Người được Th… kéo lôi hôm ấy là Kiệm. Gặp địch không buông súng, lúc nguy nan không bỏ chạy lấy thân, con người như thế không phải hạng ”tham sinh úy tử” đáng cho ta khâm phục biết chừng nào!

Những tháng ngày sống với nghề nghiệp, Th cảm thấy ngoài sự yêu nghề thì cái nghề của mình đã mang đến cho Th “phức tạp khó khăn và cả bực dọc nữa.” Có những trường hợp do tay nghề mà không rút ra bài học đích đáng nào lại bị “lớp người ti tiện nhỏ nhen” nhắm vào đó để hạ Th xuống. Đó là ca mổ ruột cancer đi vào giai đoạn cuối “không cứu được”. Đó là “vết thương xuyên thấu bụng” mà Th tự kiểm điểm lương tâm: “Đã theo đuôi quần chùng, bỏ qua mọi việc nên làm.”. Thêm vào cái chết của bé Nga vì sốt không phải lỗi Th mà Th cũng bị mẹ bé ghét bỏ. Những số phận đó như ám ảnh trong đầu óc Th. Nét nhân đạo ở trong tính cách tiềm ẩn này của nhân vật bác sĩ Th đã có. Đấy là điểm sáng mà người đời có thể nhìn thấy và học hỏi. Chính trong thế giới “blouse” như mẹ hiền này, Th đã cảm thấy cô đơn khi nhìn ra bản chất “kèn cựa”, tự trái tim biết cầm dao “chặt”, “mổ”, “băm” không cần biết kẻ đó là bệnh nhân hay đồng nghiệp.

Trong “Luơng tâm” (Vũ Tiến Dũng), nhân vật Bác sĩ Quân “đeo quân hàm, cầm dao mổ” đã nghĩ về nhân vật đồng nghiệp Hải như sau: “Không phải Hải hay ganh ghét những thành công và uy tín của anh mà hành vi bán lương tâm bù lương tháng của hắn”. Đến nỗi, anh thợ mộc công nhận trong sự cám ơn mai mỉa: “Nhờ các lương y mà hôm nay thằng đói này mới có việc làm đấy ! Xin cám ơn”. Lời cám ơn như ly nước lạnh tạt vào lương tâm con người. Ta nghĩ cho cùng: Không có những người bị thương, bị bệnh, nghề y coi như vứt đi và nếu ai cũng được cứu chữa thì kẻ đóng hòm ôm lấy quan tài mà… gặm trừ cơm! Chao ơi! Sự thật trần văn trụi đến đau lòng!

Bs Th làm mọi cách để cứu chữa thương bệnh binh. Bs Quân đầu hàng hoàn cảnh với cái ghẻ lạnh của cô y tá: “Không tiền thì sống làm gì?” Kết quả: Bs Th không sao cứu được những ca nặng trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men, không đủ phương tiện nên lương tâm ray rứt. Bs Quân không cứu được bệnh nhân không phải vì thiếu thốn phương tiện này mà vì bệnh nhân không tiền nên ray rứt lương tâm. Lương tâm Bs Th tự trong lòng phát ra. Lương tâm Bs Quân từ “tiếng búa” (vừa thật, vừa ngầm so với tòa án lương tâm) ở ngoài vọng vào: Tiếng búa của cô vợ anh thản nhiên chặt xuống chân giò heo để “cải thiện bữa cơm chiều” như “bủa” vào đầu anh “ngày càng rõ, càng nhức nhối”. Kết thúc sâu sắc quá. Hiện thực của những người “luơng y như từ mẫu” này đã được Phạm Lưu Vũ đưa vào trong “Chị Cả Bống” sau đó vài chục năm còn dễ sợ hơn thế nữa.

Xét ra, Bs Th trong nhật ký không là một mẹ ghẻ mà là một bà mẹ rất từ tâm. Một bác sĩ ”di động”: vừa dạy cho các khóa y tá, vừa kiêm cả “cải thiện đời sống cán bộ”, vừa chiến đấu, vừa khiêng thương binh, vừa nhào vô xây dựng trạm xá, trèo đèo lội suối, ăn uống thất thường, thiếu thốn quân lương, yêu thương khao khát… Cô có còn là bác sĩ “tiểu tư sản” như Th tự hào, như Đảng chỉnh huấn, coi đó là một “khuyết điểm” không? Giai cấp tiểu tư sản của nhân vật này chỉ còn cái tên và nhân vật Th đã lột xác chuyển đổi từ nhộng thành tằm bay lên.

Bs Th đã ước mơ về xây đắp hạnh phúc gia đình khi thống nhất và “đem lại ánh sáng cho những đôi mắt tật nguyền” mà không đòi hỏi gì. Bs Thủy trong “Hà Nội một thời xa” của Lê Văn Ba cũng ao ước: “Anh sẽ trở thành một thầy thuốc giỏi. Bệnh nhân đến với anh đều được cứu chữa tận tình bất kể đó là người nghèo, ông quan hay tên cướp vì là những con người”. Ta không cần khen ngợi, bản thân câu nói đó có thực hiện được hay không đâu chỉ một cá nhân định đoạt. “Mãnh hổ không địch nổi quần hồ”. Kẻ nào đi theo con đường của Bs Quân, Bs Thủy, Bs Th, kẻ ấy sẽ rớt vào “bần cố nông”. Một đời tranh đấu, một đời khổ đau để ôm lấy “bần cố nông tay không chẳng có” này thử hỏi có ai dám để ”lương tâm trong sạch là liều thuốc quý nhất” như Th nói? Nếu nhân vật nữ Bs Th này còn sống, một mình cô liệu có chống nổi “tiếng búa lương tâm” đập vào bên tai hay mặc cho lời thề lương y chìm vào quên lãng? Có ai chiến thắng trong sự cô đơn chỉ có lương tâm làm bạn?

Dù vậy, đoạn đường trở thành một “lương y như từ mẫu”, Bs Th chỉ mới đi một nửa trong chiến tranh nhưng đã là con người chân chính sống không thẹn với lòng: Một bác sĩ có lương tâm nghề nghiệp. Giữa một cuộc chiến tranh khốc liệt, một giá trị của tác phẩm nhật ký được ghi nhận thêm đó là tình yêu thương đồng đội.

4. Th: Sống chết vì đồng đội:

Trong toàn bộ hai cuốn nhật ký ghép làm một có một số tên được ghi nhận và một số đại từ chỉ ngôi thứ hai “Em”, “Anh” được nhắc tới như một ký hiệu riêng tiềm ẩn, phức tạp trong tình cảm đồng đội này. Ít nhất có bốn mười cái tên nam, nữ được nhân vật Th nhắc đến trong thương yêu. Họ là ai?

Họ là những bệnh nhân trong chiến tranh mà Th có nhiệm vụ cứu chữa với một “tình thương của một người thầy thuốc trước bệnh nhân”. Đó là San, Lâm, Bốn, Tâm, Nhiều… và một số thương binh không tên mà những trang viết về họ, Th như đang mở to cặp mắt hận thù với khẩu súng lạnh ngắt khi đối diện với chiến tranh đã cướp lấy sinh mạng đồng đội Th mỗi ngày. Những cái tên Hường, Thương, Thành, Xuất, Bốn, Thìn, Lệ, Lực, Giầu, Liên, Tuấn, Hưng, Thọ, Hạnh, Tư, Khiêm, Dũng, Sơn, Vận… người bị địch bắt, kẻ bị đạn cày, bị mảnh găm, bị băm nát, bị dẫm mìn, bị cháy lân tinh… được Th ghi lại trong đau xót. Đọc những dòng Th viết cho Khiêm, người đọc như cảm nhận được tiếng khóc của Th nghẹn ngào, đau đớn, đầy căm hờn:

“Vĩnh biệt Khiêm.

Người bạn thân thương đã ngã xuống trên mảnh đất anh hùng. Khiêm ơi! Thề sẽ trả thù cho Khiêm đến hơi thở cuối cùng” (ngày 16.8.1968. Bút tích trang 71 này không hiểu sao Th viết khác biệt so với bút tích bìa sách và những dòng “chụp” trong bìa biên tập?).

Thương càng nhiều thì căm hờn càng sâu nặng trong Th. Những con người một thời sống chết với mảnh đất Đức Phổ trong chiến tranh đầy vết đạn, đầy thương tật như bật sống dậy qua từng trang chép tay của Th và cày vào tim Th thêm những đường cày tình thương bật máu. Th đã nhận thức được rằng: Chiến tranh đã làm tan rã bao hạnh phúc gia đình, tình yêu đôi lứa như gia đình Đường: Cha, anh bị bắn chết, mẹ không còn, em bị bắt; như anh Giàu, anh Tám Vinh… bỏ lại vợ con. Ngoài ra còn nhiều số phận khác không kể hết như hoàn cảnh Thuận: Lỡ Thuận chết nữa (sau cái chết của em trai), cả nhà sẽ không còn ai để nối dòng.

Tình yêu của Hường với Quang, của Liên với Công, của Khanh với Từ… cũng đành gởi lại chiến trường lửa đạn. Ai đã từng có một thời sống trong chiến tranh, đã lén mở đài miền Bắc nghe tin “Sinh Bắc, tử Nam”, mà không rớt nuớc mắt theo Trịnh Công Sơn khóc trên xác người: “Xác nào là em tôi trong mưa lạnh này. Trong xác người già yếu, con ta còn thơ ngây” hay lời ca đau đớn của Trần Thiện Thanh: “Anh không chết đâu em… anh chỉ vừa bỏ cuộc đêm qua… Trên khăn tang cô phụ còn lóng lánh dấu ái ân…” hoà lẫn vào những ngày thực dân Pháp tàn sát những cuộc khởi nghĩa mà Nguyễn Đình Chiểu đã khóc bằng đôi mắt mù lòa nhưng lòng chẳng mù đui vì ông đã thấy cảnh: “Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều. Não lòng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơơn bóng xế dật dờ trước ngõ…”. Chiến tranh tàn nhẫn và từ ngàn năm trước, Đỗ Phủ cũng đã lên án tội ác chiến tranh nội chiến trong “Binh xa hành”: “Xe rầm rầm ngựa hí vang. Cha mẹ vợ con theo khóc hàng hàng”. Chiến tranh là vậy.

Làm sao Th với một tấm lòng nhân ái kia không bật khóc khi đồng đội, đồng nghiệp gục chết thê thảm bên cạnh những thương binh mà họ có bổn phận bảo vệ, chăm sóc? Nhắm mắt mơ bóng cờ độc lập. Mở mắt thấy máu đổ, đầu rơi. Một ngày trong Th là sự đối lập giữa ước mơ và sự thật trần trụi. Cả hai cùng lớn lên đánh phá vào tấm lòng nhân hậu của Th. Nhân vật nhật ký sao lại có nội tâm dằn xé như vậy? Trong tình đồng đội đầy thắm thiết này nảy sinh trên chiến trường vì chung một lý tưởng chống giặc. Tiến chứ không lùi. Lui là chết. Vậy thì hãy tiến mà chọn cái chết vinh hơn như Tố Hữu trong bài ”Trăn trối ” đã chọn dùm mà Th đã ghi vào nhật ký :

Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu

Dấn thân vô là phải chịu tù đày

Là gươm kề cổ là súng kề tai

Là thân sống chỉ coi còn một nửa.

Một nửa mạng cũng dành hết cho Đảng ba phần tư, một phần tư còn lại dành cho đồng đội, cho tình yêu, cho quê hương? Sao mà ít ỏi! Th đã mang chút ít ỏi ấy theo mình bên lề sự sống cái chết. Ba năm gan lỳ bám trụ Đức Phổ, Th đã cùng đồng đội di tản liên miên, băng rừng lội suối từ Du Quang sang Đức Phong, Th có thể đứng trên núi Cửa nhìn thấy cả Hội An, bờ biển Mỹ Á giữa tháng mười một mưa lũ tràn ngập cả hầm trú ẩn. Th cũng đã từng cùng đồng đội vượt cạn đón giao thừa trên Phổ Nhơn, Phổ Cường, Phổ Kính rồi chuyển về Đồng Răm, Hóc Bàu, Phổ Hiệp. (Tại Đồng Răm ngày 15.1.1970 Th đã viết lại: “Giặc đã cướp của mình hai quyển nhật ký ngày 28.4.69” để lại dấu hỏi về một sự thật: Th có mấy cuốn nhật ký ?

Tình đồng đội, đồng chí trong “Nhật ký Đ.T.T ” thể hiện rõ nhất ở sự bảo vệ thương binh trạm xá. Bản thân Th đã phải… lôi kéo thương binh vì cõng, vác không nỗi. Đọc những dòng đó, người đọc làm sao không giấu nổi nụ cười thông cảm, chua xót! Tình đồng đội trong Th còn là những tháng ngày bom đạn, đói rét lạnh run trong hầm ngập nước, gói ghém trong sự bình tĩnh nuốt từng hột cơm ướt mèm “trên đầu đạn bay chiu chít”. Tính cách nhân vật Th trong tình đồng đội hầu như không có đỉnh điểm vì nhật ký chỉ ghi lại những sự việc hằng ngày. Do đó, tình đồng đội trong Th cũng là tình đồng đội của ngày qua ngày, đêm tiếp đêm để rồi bật thành tiếng khóc đau thương khi có người nằm xuống. Tình đồng đội, đồng chí của Th cũng đã vượt qua Đức Phổ để nghe ngóng tình hình bạn bè ở miền Bắc, ở miền Nam, ở đỉnh Trường Sơn, coi ai còn ai mất và dặn dò “hãy cảnh giác”. Lời ”cảnh giác” chiến tranh hay cảnh giác người thân chung quanh mình? Sự cảnh giác sau sao mà nhói đau, chua chát.

Trong chiến tranh, người ta thèm khát một tình cảm con người sưởi ấm: Là những dòng thư từ hậu phương gởi ra tiền tuyến. Chúng quý hơn vạn lần bạc tiền không biết nói năng. Nó còn là những cái nắm tay rất bình thường mà tràn trề ý nghĩa cao cả: Sống chết có nhau chứ không phải phải những cái bắt tay “bằng mặt không bằng lòng” sau chiến tranh. Vì là nhật ký nên tình đồng đội, đồng chí của nhân vật Th chỉ “phát ra” nhiều chứ nhận lại rất ít.

Tuy vậy, “Nhật ký Đ.T.T” đã ghi lại đầy đủ những tình cảm nồng ấm của một thời chiến tranh “tre già ngồi khóc măng non” mà người cầm súng thời đại nào cũng đã từng đi qua và đã từng bị phản bội.

Nói gì thì nói, trước khi đi vào cõi vĩnh hằng, Th cũng một Đảng, hai Đảng, một Bác, hai Bác. Nhưng rõ ràng, cái mà Th cần trong lúc cô đơn, lại không phải là Đảng, là Bác, là Pa-ven của N. Ôxotơrốpki, là Áctơ Êtenlian-Voinsơ, là Hoàng văn Thụ là Tố Hữu nữa mà chính là một ”Tình yêu”.

Phan Cự Đệ trong “Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” có viết: “Văn học Việt Nam có truyền thống đề cao phụ nữ dân tộc, phát huy truyền thống đó, tiểu thuyết cách mạng miền Nam đã xây dựng thành công hình tượng người phụ nữ ‘anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang’… Tình yêu của họ lớn hơn một tình yêu”.

“Nhật ký Đặng Thùy Trâm” không phải là tiểu thuyết. Tác giả không cần phải xây dựng một mẫu người phụ nữ với tám chữ vàng sáng chói mà chính hiện thực chiến tranh đã khắc lên hình ảnh con người anh hùng. Tình yêu của nhân vật Th dành cho đồng đội, đồng chí lớn hơn cả tình yêu của Th dành cho M. là sự thật trong nhật ký chứ không phải sự thật dựng lên trong tiểu thuyết. Đó chính là giá trị hiện thực lớn nhất của tác phẩm (dạng nhật ký thật sự).

5. “Nhật ký Đ.T.T”: Tiếng nói của một trái tim khao khát yêu thương: (Giá trị chính của tác phẩm):

Những tác phẩm mang tầm vóc lớn của thế giới về đề tài chiến tranh như “Chiến tranh và hòa bình” (War and Peace), “Ana Carenine” (Anna Karenine) của đại văn hào Levtonstoi (Léon Tolstoy) Nga đều xoay quanh trục tình yêu của nhân vật “trước giờ nổ súng” và “sau tiếng bom rơi”.

Nhân vật Th trong “Nhật ký Đ.T.T” đầu đầy đặc tư tưởng Đảng, tim chứa trọn hình ảnh Bác Hồ, đôi mắt rực lửa căm hờn chồng chất là “nữ chiến sĩ giải phóng quân” của “chủ nghĩa anh hùng cách mạng miền Bắc” “trước giờ nổ súng”. Nhân vật Th với nội tâm dằn vặt giữa sự sống và cái chết, giữa đời thường ghen tị và ngưỡng mộ, giữa sự chung thủy và tình chị-em kỳ lạ (khác phái) là của một người con gái Hà Nội khao khát yêu thương, “sau tiếng bom rơi”.

Đọc “Nhật ký Đ.T.T”, người đọc phải đọc đi, đọc lại và phải thật để lòng vào những năm tháng chiến tranh mới có thể cùng Th vui vì “một cái nắm tay”, thương vì “những lời chăm sóc” và hoàn toàn cảm nhận hạnh phúc khi được ôm vào lòng một tình thương mà tình yêu dường như chưa bao giờ đạt đến mức độ cao cả ấy. Tình cảm của Th tưởng chừng như vô tư qua từng trang sách nhưng lại ở trong thử thách phức tạp tưởng chừng lẫn lộn như giữa tình yêu và tình chị-em, đồng chí.

a. Với những người vượt lên tình đồng chí:

Đó là Mùi: Người đã tặng Th bức tranh nhưng tình cảm này Th đã quả quyết: “Không thể đi xa hơn”. Đó là PH: Người nghệ sĩ tặng Th bài thơ mà Th chắc chắn lòng mình đối với PH “chỉ là tình anh em” mặc dù Th vẫn mang theo câu nói của PH “không ai thương Th bằng PH” trân trọng ghi lại trong nhật ký. Đó là anh Năm – anh Tấn: Bí thư Huyện ủy mà Th đã có những câu thương nhớ, lo lắng, quý trọng “Anh Năm của em ơi, em muốn giữ trọn niềm vui, niềm tin tưởng dù trong bất cứ một hoàn cảnh nào… vì có anh đang cùng em vượt qua mọi gian khổ, có anh dìu em qua những chỗ gay go… ”. Trong Th, người đó cũng chỉ là “một người anh”.

Với Th, họ là những tia nắng ấm áp, là những hạt mưa xuân cho Th là lá cỏ tươi lại sau những ngày khô héo vì hận thù, vì va vấp đời thường. Song, những tia nắng ấm, những hạt mưa xuân kia làm sao có khi vào trời đông mây mờ chắn gió, nắng hạn sẽ cày mảnh đất bờ môi thêm nức nẻ chân chim. Con người lại bước vào cằn cỗi hay ngập lụt.

Cái mà Th cần chính là tiếng nói khát vọng yêu thương qua một thứ tình cảm mà chính Th công nhận “kỳ lạ”. Đó là tình “Chị- Em” mà nhật ký ”Mãi mãi tuổi hai mươi” của Nguyễn Văn Thạc không có. Ta tìm thấy chỉ hầu như trong cuốn nhật lý này. Nó chẳng phải là thứ tình “đào viên kết nghĩa giữa Lưu Bị – Quan Công – Trương Phi trong “Tam Quốc Chí diễn nghĩa”. Nó cũng chẳng phải thứ tình “chích máu ăn thề” của “Một trăm lẻ tám anh hùng Lương sơn Bạc” trong “Thủy Hử”.

Tình “Chị-Em” này chỉ có tại Đức Phổ trong cuộc chiến tranh được tẩm bằng những giọt nước mắt chắt chiu giữa họ và người con gái tên Th mà thôi!

Trước hết là tình “Chị-Em” của Th với San (một người có hai tên San và Sang) mà Th đã viết “Chị mà nhỏ tuổi hơn em”. (San hơn Th ba tuổi có vợ và con lên năm). Với tình chị-em này, Th đã viết: “Có những người lớn tuổi hơn Th vẫn gọi Th là chị Hai“. Ta nghĩ chỉ một cách gọi thân mật như được “nũng nịu”. Dưới con mắt của bác sĩ Th, bệnh nhân chỉ là những “em bé” cần chăm sóc và những người bình thường nào mà không muốn được trở thành “bệnh nhân” của một nữ bác sĩ hiền lành, dễ thương như bác sĩ tiểu thơ Thùy Trâm? Người yêu của Th là M. đã từng ao ước như thế như Th đã kể trong nhật ký. Cách gọi thân mật như trên không bao giờ xếp vào loại tình yêu nam nữ. Cũng như với Nghĩa và Thường, Th đã dùng cho hai người em kết nghĩa đó những từ ngữ và suy nghĩ vượt trên tình cảm đồng đội nhưng Th vẫn đem “lý trí cách mạng” và “tình người” để lý giải cho những khát khao được bày tỏ tình cảm yêu thương với họ.

Phần giải quyết những tình cảm trên hình như Th chẳng cần nhiều lý giải vì người ta cũng hiểu ”không có gì”.

b. Nhưng có cái “lớn hơn tình yêu”:

Cuốn “Nhật ký Đ.T.T” dày 322 trang không tính bìa nhưng “thật nhật ký” là 223 trang. Trong đó, gần 50 trang viết về một con người không phải là người yêu.

Nhật ký Đ.T.T” có tiếng vang là trong nhật ký có Đảng, có lý tưởng Bác Hồ và niềm tin cách mạng nhưng “tiếng động nào còn lại” trong lòng mọi người chính là khát vọng thương yêu được ẩn dưới bóng thiên anh hùng ca ngàn năm sáng chói! Khát vọng đó đã được Th nâng niu, thêu dệt với tiếng lòng không thể nào lý giải đó là sắc thái một tình yêu hay chỉ là gió lay cành trúc trong một những phút thiếu thốn tình cảm con người.

Nỗi nhớ của Th dành cho người mình yêu là M. cũng không sao lớn bằng từng ngày, từng giờ có Thuận. 50 trang viết dành cho Thuận so với vài trang, vài dòng dành cho M. là một chứng minh còn lời lẽ thì có đọc mới biết. Hình như viết lên những dòng về đứa em trai kết nghĩa này, Th đã vùi đầu, đã úp mặt trên trang giấy mà vui sướng với hạnh phúc có người thấu hiểu nỗi lòng mình khô khan trước đó. Với Th, hạnh phúc là giọt mưa giữa sa mạc cỗi cằn gió cát mà Thuận là giọt mưa. Th đã hai tay hứng lấy giọt mưa ấy mà khóc thật sự trước một thứ tình cảm “chị-em” đã được “Bà tiên và chiếc đũa thần” để sót lại giữa đời thường cho những ai đủ phước phần sẽ tự nhiên mà hưởng. Th đã được nó, đã sống với những tháng ngày hạnh phúc của một cái cây héo cần chút phân xanh nuôi dưỡng. Thế mới nói rằng cổ tích chỉ để người ta ước mơ nhưng cổ tích có khi trở thành sự thật mà không phải ai ai cũng may mắn hưởng phần.

Th quen biết Thuận lúc cha Thuận chết, mẹ mất, còn bốn đứa em. Th có cảm tình với Thuận “không phải vì có bộ mặt Ác-tơ mà vì chăm ăn, chăm làm” và biết “xử lý có tình”. Đó chỉ là một cách lý giải cho có khi lòng không thể giải thích nổi. Tình cảm khó mà so sánh nhưng nội tâm Th đã tự lựa chọn để chuyển hướng sống, để giải tỏa nỗi lòng. Trong lúc ta đơn độc tâm hồn, bước chân ta lầm lũi cô đơn trên từng con đường mòn đầy sỏi đá, hình ảnh nào hiện lên trong tâm hồn ta khiến đầu óc ta quay cuồng vì nó, đôi chân ta vững lên vì nó, cõi lòng ta như được ấm lên vì nó, thì hình ảnh đó mới thật sự chính là ta cần biết bao! Một cái phao cứu ta giữa biển trời ngập ngụa “sóng sau dồn sóng trước” mới quý làm sao! Đó là một cái phao phần hồn thiêng liêng trong lúc con thuyền tình yêu chỉ biết xuất hiện khi biển yên, sóng lặng, nó như thừa thải. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Đói thật hay đói lòng đều đúng cả.

Trong Th, hiện tượng đó xảy ra một lần khi được vào Đảng trong tâm trạng một đứa trẻ thèm sữa mẹ khát khóc đến lả người. Hiện tượng này đã lập lại trong tình yêu giữa Th và M. Th đã không còn nhận thấy tình yêu của M. có mãnh lực thu hút Th nữa vì Th “chờ đợi đã quá mõi mòn”. Chính tính cách rập ròi, thống nhất ở cách nhìn nhận sự việc có kết quả từ cuộc đời với những năm tháng khói lửa đã làm cho người đọc tin chắc vào tình cảm của Th. Đó là một thứ tình cảm vượt lên trên tình đồng đội, lớn lao hơn cả tình yêu nhưng không bao giờ có cảm nhận là một tình yêu đôi lứa. Tình yêu tri kỷ đó sẽ tồn tại vĩnh viễn mà tình yêu thiếu tri âm sẽ không sao đẩy lùi. Vì sao nhân vật Th có sự chuyển hướng tình cảm kỳ lạ như vậy?

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã sản sinh ra những anh hùng. Những chàng thanh niên đó bỏ nhà ra đi theo tiếng gọi non sông mà “trong tình cảm anh trở thành con người thắm nhuần cách mạng đầy căm thù… 1954, tập kết ra Bắc không chút nuối tiếc vợ con” (Nỗi lòng của người về -Vũ Nam). M. của Th chẳng có vợ con để mà nuối tiếc, M. không ra Bắc mà vào Nam. M. “không nuối tiếc” tình yêu giữa một anh giải phóng quân và cô bác sĩ y khoa. Th hụt hẩng cả phần Hồn. Tuổi của Th là tuổi của những “mùa hoa lê-ki-ma nở”, tuổi của cánh sen trong trắng giữa bùn lầy. Đó là lứa tuổi khao khát yêu thương và thèm lời chìu chuộng. Nó không phải là tình yêu của một tầng lớp tiểu tư sản trí thức mà chỉ là tình yêu của một người con gái ước mơ có cuộc sống gia đình bình thường như bao người con gái khác. Với Th, M. đã không có gì đảm bảo chắc chắn dù chỉ là một lời hứa hẹn. Do đó, tình yêu Th, có mà như không. (Độc giả cũng không thể nào hiểu nổi vì sao cuộc tình hai người trở nên xấu đi). Nhưng Th đã nhận ra: “Mình thiếu thốn nhưng cũng rất đầy đủ” vì đã có được tình cảm đồng đội, đồng chí và tình chị-em kỳ lạ của Thuận đã kịp thời vá đầy khoảng trống.

Hình thức bề ngoài chỉ ghi nhận vào nhau giữa hai người đối diện một cảm mến hay dững dưng. Cách “đối nhân xử thế” của con người và sự dám “hy sinh” cao thượng không cần sự báo trả mới là mảnh đất màu mỡ để một tình yêu kỳ lạ nảy nở, sinh sôi. Mảnh đất ấy đã có trong “Nhật ký Đ.T.T”. Những lời viết về Thuận, Th như nhẹ cõi lòng hẳn ra: “Lòng mình bỗng thấy ấm áp như có thêm ngọn lửa nhỏ”. Th đã có lý giải nó như một tình cảm cách mạng “nhớ nhau… chị gọi em ‘đồng chí’ ” vậy thôi. Th viết: “Bởi vì cách mạng đã rèn đúc nên những con người cao đẹp và gắn họ lại thành một khối bền vững và gắn bó hơn bất cứ một vật gì trên đời”. Một cách lý giải đuối lý vì Th đã không dành ”tình cảm cách mạng” đó cho San, Nghĩa, Thường, Khiêm, Tấn, Mùi, PH… mà dành trọn hết cho Thuận? Đây chính là điểm ”gút” của nhân vật và người ta chờ nhân vật này ”gỡ” cái gút ấy như thế nào?

Nhân vật Th đã có những trang tự dằn vặt mình khi phát hiện tình cảm M. đã đi xa và đã có một thứ tình cảm kỳ lạ khác đang ngự trị giữa tim mình. Khi con người có sự dằn vặt tất sẽ xuất hiện hai phân thân: Một quan tòa và một trạng sư. Nhưng ở nhân vật này, hình bóng quan tòa mù mờ nên hào quang trạng sư phát sáng. Th tự bào chữa cho mình: “Trách Th làm sao được hở người bạn cũ mà em từng nói hai chữ thương yêu”. Bao quanh tình cảm mới lạ đó, Th cũng “khoác” cho nó một chiếc áo cách mạng: “Tại sao những người cách mạng lại có thể thương nhau đến mức ấy nhĩ?”. Đến mức nào thì nó cũng có hàng rào của một tình yêu thực sự cản ngăn. Có đến mức nào thì cũng chỉ một nụ hôn lên má, lên trán… không hơn được nữa. Ta đồng ý với Th đó là: “một tình thương trong trắng, chân thành vô hạn”. Nếu lý giải một hồi e rằng trạng sư này đuối lý mất. Mới biết với tình cảm riêng tư, trái tim khó lòng kiểm soát nổi nó.

Tội nghiệp, đã cho nó là “trong trắng” là “vô tư” sao Th còn phải ”đắn đo dằn vặt, kiểm thảo”? Trong công tác, Th đã tự ”cho điểm” mình nhưng trong tình cảm, nhân vật này không dùng điểm đuốc để hạ mình. Th kiểm điểm bản thân: “Tự kiểm mình và em xem có điểm nào cần xem lại không” nghĩa là xem nó có phải là “tình yêu” hay không? Rốt cuộc, Th như thở hắt, khẳng định: “Chỉ là những tình cảm cách mạng, tình cảm trong trắng chân thành của những trái tim khao khát yêu thương, không có lý do nào khác nữa. Vậy mà vẫn cảm thấy kỳ lạ…”

Sự “kỳ lạ” này khó cắt nghĩa và có khi là điều kỳ lạ của một thứ tình cảm cao đẹp: Tình cảm ân nhân mà chính Th đã nói với lòng rất biết ơn tình cảm của em dành cho chị. Giọt nước mắt lầm lẫn có thể rớt vì tình yêu không hết lòng “sáng đến, chiều đi” nhưng niềm vui và nụ cười sẽ không bao giờ tắt khi lòng ta có thứ tình cảm ân nhân kỳ lạ này. Có phải vì con người có: “Hạnh phúc giống nhau nhưng bất hạnh khác nhau” như Puskin từng viết mới tạo ra tình cảm này? Chưa hẳn đúng. Trong chiến tranh rõ ràng “bất hạnh” giống nhau ở chỗ “mất người thân, tan vỡ gia đình”. Chỉ có chút “hạnh phúc” này mới khác người. Ra khỏi chiến tranh, tình cảm này sẽ biến dạng thành tình cảm khác mang tính cách tự nguyện. Con kỳ nhông, tắc kè đều đổi màu da để thích nghi môi trường mà sống được. Tình cảm cũng không thể tách ra khỏi môi trường tâm sinh lý mà trường tồn. Nước không cần cá nhưng thiếu cá, nước như kẻ câm không còn gợn sóng vì thiếu bạn bè.

Xem ra thứ tình yêu “Chị-Em” của Hoàng Cầm với những “Lá diêu bông”, “Đêm tam cúc” cũng chưa mặn mòi bằng thứ tình cảm mà Th và Thuận đã có được trong cuộc chiến tranh tại mảnh đất gan lì bom đạn Đức Phổ. Tình cảm ấy đã được nắng ấm (tình đồng chí) đã được cơn mưa (tình đất nước) được chăm sóc, bón phân (tình Chị-Em) nên sống vững với bốn mùa. Do đó, những trang viết tiếp theo, Th dù có dành cho miền Bắc, cho ba mẹ, cho em, có bom qua đầu, đạn qua tóc, có ngập ngụa dưới hầm, có ăn hạt cơm sống dở chín dở, Th vẫn dành những trang viết cho người em kết nghĩa này một cách tha thiết. Những dòng Th viết về Bác, về Đảng, về cách mạng thì giống như những bài học đã học thuộc ở trường học. Những dòng viết về những con người chung quanh, viết về công việc của Th giống như một người đứng ở một chiều chiến tranh nên tầm mắt bị cuộc chiến đẫm máu làm cho hạn hẹp và trái tim nhân hậu của Th đã vì căm hờn mà mất lý tính khi nhìn về những người bên kia…

Thế mà, những dòng viết riêng cho mình, cho Thuận là những trang viết chân thật nhất nên hay nhất, đầy nước mắt nhất. Có phải tình cảm của Th một chiều không? Th đã nhận được từ Thuận một tình cảm tương tự khi được Th “ôm em trong tay mình, hôn lên đôi mắt em” thì Thuận đã bộc lộ: “Hãy tin em, trước đây, bây giờ và cả về sau không một người nào có thể chiếm ở em tình thương hơn đối với chị trừ cha mẹ em đã chết.”. Như vậy sau ”cha mẹ em là chị ”. Thiêng liêng quá rồi còn gì. Những tình cảm ”cõi trên” này sao mà trở thành tình yêu đời thường như Th khao khát được? Vậy là tôn thờ suốt đời mà chẳng ”sơ múi” gì. Không gọi tình ”ân nhân ”thì ta cũng chẳng biết phải gọi sao cho tương xứng mức độ tình cảm đã có của hai nhân vật. Một tình cảm ân nhân cần thiết cho Th, vì thế, sự chăm sóc của Th dành cho Thuận cũng như sự lo lắng cho đồng nghiệp, đồng chí, cán bộ, thương binh đồng vượt trên mức đồng đều đến nổi thiếu nó, Th đã hai lần cảm nhận “cô đơn và tủi thân lạ” vì không có Thuận bên cạnh.

Từ chối Mùi, từ chối PH, không làm lành với M. nhưng Th dang rộng cánh tay đón tình cảm của Thuận vì đó là thứ tình cảm không phải tình yêu như M. Mức rạn nứt giữa Nghĩa – em và Th – chị làm cho Th “khó mà tha thứ” nhưng Th không cảm thấy đau nhói bằng “lầm lỗi” của Thuận. (Chẳng biết giữa Nghĩa, Thuận, M. và Th xảy ra chuyện gì mà Th không nói rõ. Đây cũng là nhược điểm của ”Nhật ký ĐTT”). Tình cảm Th dành cho Thuận vượt lên mức bình thường khi Th cảm thấy lòng thật trống vắng: “Em yêu ơi, nhớ em kỳ lạ, ao ước vô cùng được gặp lại em, được nhìn vào đôi mắt thân yêu, được ôm em trong lòng, được hôn em như một đứa em bé bỏng ruột thịt trong nhà”. Ta tin chắc rằng với mức độ nhớ thương thắm thiết ngần ấy, anh em ruột thịt sẽ không bao giờ có được.

Th đã luôn luôn dặn Th và mọi người cũng như dặn lòng: “Hãy cảnh giác”. Nhưng cảnh giác cả người trong nhà mới là sự cảnh giác căng thẳng, nhói đau, bầm gan, tím ruột. Tình cảm của họ đi qua những cặp mắt cú vọ sẽ hóa thành một thứ tình cảm khó tin là “trong trắng và lành mạnh”. Bởi vậy, cho dù Th đã ao ước rất nhiều như thế khi gặp lại Nghĩa, Thuận, tình cảm của Th phải ”chựng lại” vì “ngại họ hiểu lầm” với “những lời nói ra nói vào đáng ghê tởm”. Họ là ai? Th cũng không dám ghi vào nhật ký. “Chủ nghĩa xét lại” nếu nhắm vào Th, trước hết, họ sẽ đánh vào mảng tình cảm này của Th và Th sẽ không chống đỡ nổi với những lời “đáng ghê tởm” đó. Chiến tranh bên lề sống chết mà vẫn có những người “lạnh máu tanh dòng” không biết đến tấm chân tình thì làm gì họ có thể mở lòng ra thông cảm cho kẻ khác!

Họ là ai? Là những đồng đội, đồng nghiệp mà Th một thương mến, hai sống chết có nhau. Họ không phải là Đảng là “mẹ” của Th sao? Cây cay đắng đã không ra quả ngọt mà chỉ sinh ra những trái độc và Th là người nếm phải. Những tảng đá cản đường tiến quân thời chiến trở thành lá vàng nghẽn lối tương lai thời bình như một tất yếu lịch sử. Th “cảnh giác” trong nỗi ngán ngao và vững vàng trong nỗi buồn cô đơn trước những đôi mắt cú vọ bằng chứng là càng về sau, những trang viết về Thuận lại tha thiết, sâu lắng hơn như một Tử Kỳ sống không thiếu bóng Bá Nha. Th đã sợ Bá Nha đó biến đi: “Em mãi mãi vẫn còn bên chị nghe em, em đừng đi đâu cả nghe em”. Tình cảm Th tràn ra lên cho cả đứa em Thuận. Được tin Nhiều hy sinh, Th đau như chính mình bị băm xé vì: “Hình ảnh em là hình ảnh của đứa em trai mà chị đêm này nhớ thương tha thiết”. Tình cảm ân nhân đã chắp cánh cho người con gái trong lửa đạn trở về với cây đàn ghita. Cô đã không hát “Bài ca hy vọng, Chiều Matxcơva, Cây Bạch dương, Trở về Soriento, Sullico…” với đáp số buồn thảm mà cô hát bài “Đợi anh về” của Simorov mà Th đã thay từ: “Em ơi ! Đợi chị về, đợi chị hoài em nhé…”. Người con gái này đã tròn ước nguyện chỉ khi về thế giới bên kia .

Tại sao, Th không dùng bài hát đó cho M.? Ngày hòa bình lẽ ra ngày Th sẽ gặp M. nhưng tình cảm của M. đã làm trái tim Th rẽ sang lối khác để chiến đấu mà sống. Lối rẽ đó, Thuận xứng đáng hơn M. nhiều lắm. Th cũng đã phải làm một phép so sánh cuối cùng: “M. cũng không thương mình bằng em đâu”. Câu hờn dỗi nghe sao mà buốt lòng! Không biết những người trong cuộc một thời xa vắng ấy giờ đang ở nơi đâu sao không xuất đầu lộ diện như một chứng nhân về một tình yêu thương vô bờ của một người con gái qua bên kia cõi đời trong lặng lẽ? Người sống sợ ma nhưng người chết cả con ma sao cũng sợ? Con người M. khi đọc được những dòng này nếu không “cao thượng”, không “hiểu biết” tất sẽ sùng lên, ghen tuông tầm thường. Còn chúng ta, nếu chúng ta không để lòng cùng Th về với những năm tháng chiến tranh thiếu thốn vật chất, khủng hoảng tinh thần với mức độ ‘tâm sinh lý’ mà hiểu họ thì chúng ta cũng sẽ nhìn họ bằng cặp mắt ”cú vọ” và những lời thốt ra “đáng ghê tởm” như Th đã viết.

Khát vọng tình yêu là khát vọng chung của con người. Những tác phẩm văn học nói chung viết về đề tài tình yêu nhân loại, nếu không xây dựng được những hình tượng nhân vật có nét tính cách nhân bản là mảng tình yêu này thì coi như những tác phẩm đó tự cắt một nửa giá trị nội dung, chia đôi giá trị nghệ thuật. Trong hòa bình, tốc độ tình yêu giảm đi nhưng trong chiến tranh, khát vọng tình yêu bộc phá mạnh mẽ và mãnh liệt có thể đẩy người ta ra giữa trận tuyến mà hứng trọn đường tên mũi đạn như không. Cái chết lúc này sẽ ”nhẹ như lông hồng” chứ không “nặng như Thái Sơn”. Tình yêu đó không chỉ là tình yêu quê hương, đất nước, đồng chí, đồng bào mà còn là một tình yêu chân chính hiếm hoi trong cuộc đời.

Tình cảm ân nhân của Th coi như làm đảo lộn mức tình cảm đời thường. Nó đáng cho ta hâm mộ và ghi nhận trân trọng. Ngoài tình yêu chung chung, người ta còn có rất nhiều loại tình ân nhân như thế ấy mà ta không biết xếp nó vào chỗ nào để một đời cất giữ. Khi Th ngã xuống, Bá Nha và Tử Trực kia ở đâu? ”Mãi mãi tuổi xuân” dành cho Th cũng mãi là dấu hỏi giữa trời lộng gió Hà Nội một thời xa… Nhưng Th chắc biết rồi, Th không bao giờ cô đơn nữa. Người ”Em” mà Th hết lòng yêu thương ấy cũng đã theo Th về một cõi của tình yêu ân nhân và khát vọng chân thành vào cái năm Th ngã xuống 1970. Không còn ai có thể chia cắt họ, kể cả chiến tranh, quyền lực và danh vọng, tiền tài. Tình yêu của họ cũng chỉ là tình yêu thiêng liêng không nhuộm sắc màu trần tục.

Còn M.? người giải phóng quân và đồng đội “cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn” mà Th đã hết mực chung thủy hiện là cánh chim phương nào? Thực chất con người này trong tình cảm của Th?

c. Một tình yêu vô vọng:

Nhà văn Nguyên Ngọc trong bài “Có một con đường mòn trên biển Đông” (Nxb Hà Nội- 1995) có viết: “Người chỉ huy cái bệnh xá ấy là một cô gái, một bác sĩ trẻ người Hà Nội. Chị tên là Trâm… Nghe nói chị có người yêu vào chiến trường trước mấy năm… cho đến khi tốt nghiệp trường Y, chị xung phong vào Nam ngay đúng chiến trường Quảng Ngãi. Không biết vì sao, vào chiến trường rồi, hai anh chị không khăng khít với nhau nữa. Chị có nỗi đau riêng, giấu kín…”. Tôi chợt nhớ một bài hát ”Có những niềm riêng” của nữ nhạc sĩ Lê Tín Hương: ”Có những niềm riêng một đời giấu kín, như rong như rêu… Có những tình yêu một đời câm nín…” và dù nỗi niềm ấy như là đá cuội thì nó vẫn lăn theo những gót hài, theo bước chân người ấy. Người ấy một thời Th đã yêu thương đã từng tiễn đưa và từng chung thuỷ.

Th vào Nam theo tiếng gọi của tổ quốc và tình yêu như Th tâm sự. Lẽ ra, Th phải là người vui sướng khi được chiến đấu bên cạnh người yêu. Vậy mà nhân vật Th đã cảm thấy mất mát: “Bên trong nỗi nhớ hình như có một nỗi buồn sâu kín, thầm lặng nhưng rất nặng nề. Dù sao vết thương lòng vẫn đang rỉ máu, dù mình có muốn lấy công việc, lấy mọi nỗi nhớ khác đè lên trên, nó vẫn trỗi dậy, xót xa vô cùng”. Một cảm giác tan vỡ từ từ đi đến: ”Mình đã gặp lại M. Ai cũng tưởng rằng hạnh phúc đó không có gì sánh được. Nhưng cuộc đời lắm nổi éo le. Khi xa nhau, mình đã thiết tha thầm gọi tên M. trong từng giây, từng phút nhưng khi gặp nhau mình đã cho lòng tự ái ngự trị lên trên tình yêu. M. không phải là người của mình’‘. Té ra, một sự tự ái vì M. ”dành hết tình yêu cao nhất cho Đảng, cho nhân dân nhưng nếu để cho mình quá ít yêu thương thì…không thể đáp ứng với trái tim sôi nổi yêu thương của mình”. Ta lại gặp một thứ tình Xuân Diệu của Th mãnh liệt mà M. chỉ là ”lá khoai”. Công thức ”cung – cầu” trong tình yêu đời thường lại bị phá vỡ theo tình yêu đã ”cách mạng hóa” thành lưỡi dao chém vào hồn người. Vết thương lòng vĩnh viễn không tài nào lành lặn trong những người có lòng tự trọng đến cố chấp.

Th không lý giải rõ ràng hơn vì sao M. đã gây vết thương lòng cho Th. Mây mù cứ bao phủ chung quanh mối tình của họ và nỗi buồn của Th cũng chính là nỗi buồn đời chiến tranh. Một linh cảm mù mờ. Một lý giải bế tắc. Một niềm tin về tình yêu tuổi trẻ đã vô vọng: “Giữa chúng ta không thể nào có hạnh phúc vĩnh viễn”. Tình yêu như tan vỡ. Kỷ niệm cũ thời Hà Nội xa xưa ấy “cùng nắm tay”, “vai kề vai vui đón xuân sang” cũng đã chìm theo “vết thương lòng đang rỉ máu”. Một ẩn dụ của cuộc đời mà ai cũng ít nhiều có một lần bị chém đứt.

Ý niệm tan vỡ ấy hình thành trước khi có tình “Chị-Em” kỳ lạ của Thuận cho đến khi những rạn nứt không thể hàn gắn thì hình bóng một tình yêu lý tưởng cũng mờ dần, kỷ niệm cũng đã khô queo, héo hắt bởi ”ba năm qua, hai đứa chỉ gặp nhau hai lần”. Thời gian chiến tranh cũng góp phần làm tác nhân gây rạn nứt trong tình cảm họ. Nhân vật Th không nhận về mình đã tự xé đôi tình yêu mà nghiêng về phía M. là tác nhân chính gây ra tan vỡ:

– “M. cứ gieo đau buồn lên trái tim của một người con gái sôi nổi yêu thương và tràn trề hy vọng ở cuộc đời… Có ai yêu nhau mà như M. đối với Th đâu”. Lời trách móc của Th cũng chỉ đúng một nửa. Bởi, M. và Th cùng chiến tuyến nhưng không cùng đơn vị. Sự ưu ái của tình yêu với hương vị cận kề chỉ là nỗi nhớ theo thời gian. M. có muốn bày tỏ tình yêu cũng chỉ gởi vào những trang thư như ”gởi hương theo gió” hiếm hoi và không phải lúc nào cũng có mặt trên từng cây số lúc Th cô đơn. Khi cô đơn, tình yêu cần cái phao nhưng cái phao ấy không phải lúc nào cũng thả xuống kịp đáp ứng yêu cầu. Không hiểu nhau thì giận nhau dài dài. Thế thôi.

Tình yêu của Th và M. vời vợi xa cách không giống như chàng giải phóng quân và cô Bí thư chi bộ Mẫn trong “Mẫn và tôi” của Phan Tứ. Ở họ “yêu say đắm mãnh liệt và rất tỉnh táo”. Ở Th, M. yêu có yêu nhưng thiếu tỉnh táo để tìm ra nguyên nhân tại lòng người hay tại hoàn cảnh chiến tranh? Th và M. đã gặp mặt, đã yêu và tan vỡ đối lập với nhân vật Lâm – Nguyệt. Hai nhân vật này chưa bao giờ gặp mặt, vẫn yêu tha thiết như trong “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu, sáng mãi. Nhưng dù sao tiểu thuyết vẫn là tiểu thuyết. Còn M. của nhân vật Th là người thật bằng xương bằng thịt, là người của nhật ký không thể muốn tô vẽ thế nào cũng được.Vì thế mà Th đau. Sống trong nỗi đau như vậy có thêm một tình cảm chân tình khác lượn quanh thì phải biết bám lấy mà sống. Mâu thuẩn tâm lý tình cảm của nhân vật Th trong nhật ký lại đi đến một kết thúc ”không có hậu” thê thảm. Nhân vật chính đã phải chết. Nhân vật Th và M. không nằm trong mốt thù ”hai dòng họ” như ”Romeo-Juliet” của Sechpia. Nhân vật bi kịch phải chết. Nhân vật của tiểu thuyết, truyện ngắn chết (chị Sứ) vì tác giả muốn, còn nhân vật nhật ký chết (Thùy Trâm, Thạc, Lân …) vì chiến tranh mà tác giả không bao giờ muốn.

Đọc lại những dòng M. viết cho Th, người đọc như mù mờ không hiểu nổi với những dòng chữ ngọt ngào như vậy sao Th lại cảm thấy vô vọng:

– “Sự sống của tình yêu không cần sự có mặt của nhau, dù ở Nam hay Bắc, dù là gần nhau hay cách ngàn dặm đường nắng mưa cát bỏng… Ở đâu anh cũng vẫn là anh của tám năm qua và nhiều năm nữa để mà yêu em tha thiết, hãy sống với nhau như một người thân yêu nhất trên đời. Quyết định là hoàn toàn do em..”. Khủng hoảng vì “tám năm qua và nhiều năm nữa” một thời gian chờ đợi như dài vô tận. M. đã quên mất tuổi xuân của một người con gái sẽ vì tình yêu vì cuộc chiến tranh này mà vùi chôn trong khói lửa. Trái tim Tố Hữu “dành để em yêu” và M. “để mà em yêu tha thiết” giống hệt một trái tim chỉ còn một chút xí đỉnh để dành cho tình yêu ”nhận vào” chứ không ”phát ra”. Thiệt quá kiêu ngạo và ích kỷ biết chừng nào!

Th đã không còn sự lựa chọn nào khác vì quyền “quyết định” là do Th: Chờ hay không chờ, yêu hay không yêu nghĩa là muốn sao cũng được. Gáo nước lạnh rồi đó mà! Bởi vậy, sự thiết tha “chờ anh về, đợi anh hoài, em nhé” đã chuyển sang “chờ chị, đợi chị hoài, em nhé” chẳng còn lý do gì để không bật ra. Thế nhưng, nhân vật Th đã tin chắc “có một tình yêu chân chính” giữa hai người: “Ở đây mình sẽ dành trọn cuộc sống cho chiến đấu và công tác, không thể nào có tình yêu nào được và M. ở đó chắc cũng không thể nào có một tình yêu chân chính khi nghĩ đến ai khác ngoài mình”. Vỗ lòng như thế, an ủi như thế mà nguồn hy vọng và tình yêu của M. trong Th đã theo tháng ngày chờ mong vô vọng nên lụi tàn. Điều đó thể hiện rất rõ khi nhận thư M., Th “không đọc vội vì mười năm rồi, tình yêu khô cằn, mất hết rung cảm”. Trong nhật ký, nhân vật Th đã không thể đếm chính xác tình yêu mình đã có bao nhiêu năm. Khi thì mười hai, mười năm, khi thì tám năm… Cái gì đã làm cho Th lẫn lộn thời gian? Ta nghĩ không có cái phao ân nhân của Thuận, nhân vật Th khó mà ghi tiếp những dòng nhật ký có hương, có hoa, có mưa, có nắng, có tiếng suối chảy róc rách giữa rừng và những lời thì thầm trong gió thiết tha như một lời chung thủy.

Giá trị hai từ “thủy chung” hay “chung thủy” nếu không có một tình yêu thật sự mãnh liệt giữ lấy, nó sẽ tiệt tiêu vì thời gian hay vì hoàn cảnh và vì tình yêu chưa đi đến giai đoạn có gốc có rễ. Th xác định ”không thể có một tình yêu nào khác” nghĩa là Th không thể có M2 nào đó và Th2 nào đó cũng chẳng thể có trong M.. Cho nên, cuối cùng Th vẫn cảm giác buồn bã giữa núi rừng khi vẫn có một tình cảm ân nhân kỳ lạ của Thuận bên cạnh: “Ở đây, Th không có cái hạnh phúc đi cạnh người yêu trên con đường vắng khi ánh chiều tím dần trong buổi hoàng hôn”. Th đã thật cảm thấy cô đơn giữa tổ phụ nữ ba người băng lửa thép không phải ngoa dụ như Dương Hương Ly “đánh bật vòng vây mấy tiểu đoàn” mà bị lạc trong rừng cùng với những thương binh đói meo, đói mốc “Chín ngày đã trôi đi mọi người vẫn không trở lại…”.

Cái mà Th cần trong lúc “rưng rưng nước mắt”, “tủi thân đến lạ lùng” này chỉ là “một bàn tay là người quen cũng được chuyền cho mình tình thương sức mạnh để vượt qua những chặng đường gian khổ trước mắt”. Đến phút này, Th cũng không có được một bàn tay ai chìa ra cho Th “không lẽ mọi người đành bỏ mình trong hoàn cảnh này sao?”. Tình yêu của M. và tình ân nhân của Thuận cũng cùng số phận như nhau: Lặng lẽ biến mất khi hiện thực xuất hiện: Cô đơn, lạc lõng và hầu như cái chết đã rình rập trước mắt Th cùng đồng đội. ”Mình vào miền Nam theo tiếng gọi của tổ quốc và tình yêu”. Tổ quốc lúc cuối đời của Th vẫn còn là nửa mảnh thoi thóp và tình yêu của cô cũng chỉ là “nửa hồn thương đau”. Cái tình nào cũng không trọn vẹn.

Nhân vật Th đại diện cho một tầng lớp trẻ (tiểu tư sản thành thị trí thức nòi), dám quên đi tương lai sự nghiệp sáng lạn đang chờ phía trước mà chấp nhận vào chiến trường miền Nam hy sinh cho cuộc chiến chống Mỹ (trước 1973) với ước vọng hòa bình và khát vọng tình yêu đã không có được trong một thời kỳ chiến tranh. Nhân vật này mang đầy đủ yếu tố để ta kết luận trong tình yêu: Là một người con gái dám yêu, biết khao khát và chung thủy.

Nhân vật Th trong “Nhật ký Đ.T.T” còn là sức sống của cây xanh trong tháng ngày bom đạn.

6. “Nhật ký Đ.T.T“: Lá vẫn xanh giữa bốn mùa gian khổ:

Nhật ký thường chú trọng ghi sự vật, sự việc từng ngày, ít khi chú trọng vào khung cảnh nhất là trong những tháng ngày bom đạn, ai có hồn vía nào để lòng nhà thi sĩ, thi nhân. “Nhật ký Đ.T.T” lại có được hơi thơ của chất nghệ sĩ. Giữa ngỗn ngang bom mìn, nhan nhãn xác chết, mịt mù khói súng, ta bắt gặp những câu thơ, những đoạn văn miêu tả khá độc đáo bởi vì người viết là một người con gái có tình yêu, có chất giọng, có tâm hồn nghệ sĩ, là một bác sĩ cầm súng, cầm bút, cầm đàn. Giữa những câu làm người đọc tê tái là những câu Th so sánh, nhân hóa thật tức cười tuy ít ỏi nhưng vẫn có: ”Hàng loạt điện đài và đồng hồ được đem vào bếp lửa hơ vì cái nào cái nấy đều đã uống nước no say” và ”tình hình đường đi căng hơn dây đàn”. Nét yêu đời ấy ở trong Thạc thể hiện nhiều hơn, có lẽ tình yêu vẫn đằm thắm, thiết tha của Như Anh đã mang hương hoa đến cho người chiến sĩ thông tin trên chiến trường Quảng Trị một ”tháng ba của hoa nhãn ban trưa của hoa sấu và hoa bằng lăng nữa”.

Cuộc chiến tranh ở Đức Phổ đã không còn xa lạ và khủng khiếp đến nổi cỏ cây cũng chết giấc trên những khu rừng. Trái lại, từng mùa, từng mùa vẫn trở về xanh um trên từng trang nhật ký đầy nước mắt, đầy yêu thương, hờn trách và căm thù. Niềm vui trở lại sau những ngày căng thẳng. Ta đọc được những dòng Th đã ru mình về với bài “Lòng mẹ” của Y Vân, đã nghe những âm nhạc quốc tế trên đài radio, đã đọc những cuốn sách “gối đầu tay” của Victo Hugo, của Nicolai. Ôxtơrốpxki và y như ở mảnh đất Đức Phổ này chưa từng xảy ra chiến tranh: “Tháng bảy lại về với những cơn gió nam xào xạc thổi rung cây, từng buổi sớm mai dịu mát và từng đêm trăng êm ở giữa rừng… Chỉ còn lại tiếng gió rít trên ngọn cây, tiếng ve sầu kêu rền rĩ khắp khu rừng… Rừng im lặng mênh mông trong ánh trăng mờ”.

Trong “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh hay ai đó, ta gặp hình ảnh ánh trăng như một người chiến sĩ đẩy cửa đòi thơ qua một hiện thực hư cấu “động”. Trăng của thi ca lành lặn bao giờ cũng lung linh huyền ảo trong trạng thái “tĩnh” với ”Nguyệt cầm” của Xuân Diệu. Hồn văn sĩ của Th đã nhập hai trạng thái “động” và “tĩnh” vào “Nhật ký Đ.T.T” : Trăng của trời cao lung linh thì vẫn lung linh. Trăng trong lòng Th khát khao vẫn cứ khao khát. Hai mảnh trăng Khương Hữu Dụng khép lại trong Th thành rừng trăng sáng quắc: “Vì những hạt sương tê tuốt, trăng sáng như gương, cái lạnh cũng như những lưỡi dao lùa khẽ vào da thịt. Lớp dù mỏng không đủ ấm làm mình run lên khe khẽ, cái lạnh làm mình thao thức và hình như còn có một tình thương sôi nỗi cũng ngập tràn trong lòng mình. Mình nghe hơi thở của đồng chí thân yêu ấm bên tai và nghe trái tim họ đập mạnh mẽ trong lồng ngực”. Sự đồng điệu này quá đỗi nhân bản để hiểu mình và hiểu người y như một “Hoán vị” của Trần Mạnh Hảo:

Tim mình trong ngực người ta

Tim người ta đập rung da thịt mình.

Nghe mà chua chát vì tim người, tim mình cũng đã lãnh đủ nhát dao chiến tranh oan nghiệt. Cũng không ngẫu nhiên, những người con gái sau tiếng bom rơi là hồn nhiên soi mình vào gương vuốt ve mái tóc lòa xòa trên trán, vóc từng bụm nước suối rửa cho trôi từng vết bụi chiến trường, là có những giờ vô tư bên đồng đội hay để hồn về với mảnh trăng riêng, là ngủ vùi một giấc với vô tư. Họ là những người con gái trong “giấc ngủ của nàng tiên dũng sĩ”, là Kan Lịch, là Mẫn, là Nguyệt, là Diệu… và người con gái bằng xương, bằng thịt: Đặng Thùy Trâm.

Ngưỡng mộ thay, sau lúc bom đạn cày nát trạm xá mà người con gái này còn thấy: “Những mảnh vườn hoang với những bông hoa bách nhật màu tím gợi cho người ta cảm giác bồi hồi nhớ tiếc… Những dòng suối mát lạnh với những gốc cây nở hoa thơm ngát. Nắng đầu thu tươi vàng óng ả tràn ngập cả khu rừng.”

Tập nhật ký của Th đầy súng đạn, đầy căm hờn nhưng cũng đầy hoa tươi, cỏ sắc trong nắng óng ả và gió lộng ngút ngàn. Mùa xuân cũng len lén về tràn ngập sức sống. Giữa gian khổ nhưng hồn nghệ sĩ vẫn không để hoàng hôn chết yểu nên rừng vẫn xanh tươi và trời hoàng hôn cũng chẳng thể nào héo úa: “Hoàng hôn trên đồng lúa bao giờ cũng giữ vẻ nên thơ dù giữa hoàn cảnh nào cũng vậy”. Không có một sức sống bẩm sinh, không mang tâm hồn nghệ sĩ, chẳng từng có những suy nghĩ trong trắng và hành động lương tri thì người ta không thể nhìn ra giữa cái xấu vẫn có nhiều cái tốt, giữa cái tàn khốc của chiến tranh lại có những bông hoa bách nhật mà Th nhìn thấy ở khu rừng chưa bao giờ chết.

Lùi lại một thời gian, chị Sứ cũng từng tha thiết trong “Hòn đất” của Anh Đức: “Chị yêu biết mấy cái chốn này. Nơi chị oa oa cất tiếng khóc đầu tiên, nơi quả ngọt trái sai đã thấm hồng da dẻ chị…”. Đất nước và tình yêu chúng ta cần những tâm hồn lạc quan như họ biết bao nhiêu! Giữa sự sống và cái chết trong đường tơ kẻ tóc, ước mơ của Th cũng đầy nước mắt chảy theo từng dòng suối, rung theo những lá rừng, sáng theo những ánh trăng, mở lòng ra lần cuối nhìn nhận được một khát khao hiện thực: “Bỗng nhiên một ao ước vô lý mà cháy bỏng thiết tha trỗi dậy trong mình… Có lẽ, chị sẽ úp mặt trong cánh tay rắn rỏi của em, nước mắt chị sẽ thấm ướt trên đôi tay em mà chị lặng yên không giải thích vì sao cả”. Một khát khao tội nghiệp biết chừng nào!

“Động” và “tĩnh” của Th đã là bi kịch giữa khát vọng yêu thương của một tâm hồn hồn nhiên, chân thật có trái tim nhỏ bé bị đối lập giữa lý tưởng cách mạng lớn quá nên chịu không nổi, tim vỡ. Có bao giờ, hồn Th tìm về mùa xuân trên cánh đồng Đức Phổ để lặng nhìn giọt máu Th đã tưới thấm lên mảnh đất ngày nào mọc thành hạt lúa vàng óng ả như nắng mùa thu giữa khu rừng một thời khói lửa hay không?

Nhật ký Đ.T.T” không chỉ có những tháng ngày chết chóc, không chỉ có tình đồng đội, Đảng, Bác Hồ mà còn đã có những tháng ngày mãi mãi tuổi xuân. Ở trong đó, ta còn đọc những lời chân thật như một phương ngôn.

7. “Nhật ký Đ.T.T”: Phương cách sống làm người lương thiện:

Ta quen thuộc với những câu cách ngôn: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”, hay “Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo” hoặc “Sự học như con thuyền ngược nước, không tiến, ắt lùi” như vỗ về, động viên người ta đừng e sông, ngại núi.

Thời đại của Th, người ta lấy những câu bất hủ của các lãnh tụ Marx, Engels, Lenin, Hồ Chí Minh hay của những người cộng sản gộc: Hoàng Văn Thụ, Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ… để thanh niên hoặc thế hệ sau noi theo và học tập. Những hình ảnh đó, ta không cần tìm đâu cho xa xôi tận bên Tàu bên Tây. Cuộc sống đời thường đã tự nó cho người ta những phương cách sống làm người chân chính. Làm người chân chính mà phải chọn cảnh ”vào tù” như nhân vật người đàn ông trong ”Chị Cả Bống” của Phạm Lưu Vũ là cách chọn cùng đường, bế tắc. Làm người lương thiện như Chí Phèo xách dao tới nhà Bá Kiến là cách làm người lương thiện bằng sự cưỡng bách. Đe dọa người bằng mọi khả năng, lương thiện coi như… vứt!

Hãy xem, hãy nhìn cô gái như Th sống làm người lương thiện như thế nào? Th viết: ”Có thể mình sẽ gặp địch và cũng có thể mình sẽ ngã xuống, trong tay xách thuốc còn nắm chặt”. Đó là sự hy sinh lương thiện của một lương y. Sự lương thiện không có già cỗi. Có lẽ vậy, trên ngôi một Th, người ta đã không khắc ”Mãi mãi tuổi xuân” là gì? Th đã kết tội chiến tranh dù chính nghĩa hay phi nghĩa cũng là ”kẻ cướp”: ”Tuổi xuân của mình đã đi qua trong lửa khói, chiến tranh đã cướp mất hạnh phúc trong tình yêu và tuỗi trẻ”. Đó cũng là lời kết tội có lương tri của một tấm lòng hướng thiện. Những lời ấy thật bình thường nhưng được đúc kết từ cuộc sống lửa đạn có từ căm thù cao độ của một cô gái đã từng chỉ biết ”nũng nịu trong chiếc nôi tình cảm”. Nhận thức vể tuổi xuân, Th đã có những câu rất thật: ”Ai lại không thiết tha với mùa xuân, ai lại không muốn sáng ngời trong đôi mắt và trên đôi môi căng mọng khi cuộc đời còn ở tuổi hai mươi. Nhưng tuổi hai mươi của thời đại này đã phải dẹp lại những ước mơ hạnh phúc lẽ ra họ phải có…”. Th đã không chỉ nói cho mình, mà còn nghĩ đến những người đã hy sinh tuổi xuân và tình yêu khác. Những Hạnh – Lâm, Hường – Quang, Liên – Công, Khanh – Từ… trong “Nhật ký Đ.T. T”, những Dương Thị Xuân Quý – Bùi Minh Quốc hay Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ… đời thường văn nghiệp đã chẳng phải là những đôi chim nhạn gãy cánh hay sao? Đó cũng là một nhận thức có lương tri của con người lương thiện.

Ngay cả khi lâm trận và sau khi giặc rút là hình ảnh mưa “lênh láng nước, đứa nào đứa nấy ướt sũng, luôn tay hứng mưa dột và đổ nước ra ngoài. Mấy thương binh ngồi co ro ướt lướt thướt, chị Lãnh và anh Đạt đang mơ ước: ‘Hòa bình lập lại ắt hẳn phải chiếu cố nhiều đến những người đã qua cảnh này”, Th đã thẳng thắn: “Em thì chả cần chiếu cố đâu. Ước mong của em chỉ là hòa bình trở lại để em được về với má em. Có thế thôi”. Đó cũng là một mơ ước của con người lương thiện không cần đòi hỏi công lao cho tương xứng tầm vóc hy sinh của mình. Một ước mơ lương tri đáng kính nễ.

Những trang viết về gia đình, cho Mẹ Th, Th cũng hết sức tỏ lòng cứng cỏi: “Mẹ hãy khóc ít thôi mà hãy tự hào vì các con đã sống xứng đáng. Đời ai cũng chết một lần”. Ta nghe như một luận bàn về lẽ “anh hùng, sinh tử”. Đời ai cũng chết một lần. Chữ ”anh hùng” ngày xưa như “chí lớn, tài năng, mưu cao, bản lĩnh” hay phải là “da ngựa bọc thây”. Anh hùng của Th bình thường với “sống xứng đáng, chết vinh quang” khác xa với sự luận bàn anh hùng của Tào Tháo “giải thây trăm họ nên công một người” với “thà giết lầm hơn bỏ sót” của đường lối chính trị. Ôi chao! Hai chữ “Anh hùng” hiểu theo cách xưa và nay hay hiểu như thế nào cũng chỉ là nhuộm máu mà nên cả!

“Nhật ký Đ.T.T” đã được tung ra, mỗi bài viết về Đặng Thùy Trâm làm cho người anh hùng này như thêm một lần sống đi chết lại. Một bài thơ không tên viết vào buổi chiều hoàng hôn đã như một điềm báo gở và những dòng nhật ký như những lời trăn trối chân thành: “Cuộc đời Th là một cuốn sổ những dòng chữ ghi trên đó đẹp như một bài ca nhỏ. Xin Th hãy viết những dòng xứng đáng”. Thạc cũng viết tha thiết: ”Nếu tôi không về, ai sẽ thay tôi viết tiếp những dòng này. Tôi mong muốn những dòng tiếp theo sẽ là dòng vui tươi và đông đúc”. Có phải từ ”đông đúc” của Thạc muốn ước mơ cái gì không ngoài sự mong đừng tổn hao quân số?

Cuốn sổ của Th đã khép lại ba mươi lăm năm trước, bây giờ được mở tung ra theo xu hướng “quật mồ nhật ký” mua bán trên thị trường với quan niệm: Sống, chết cũng làm ra “lợi ích” cho đất nước, cũng là một lần nữa “hy sinh”? Không ai biết rằng điều Th trăn trối, thiêng liêng gấp vạn lần ca tụng cuốn sách “bán vượt kỷ lục thế kỷ” là: “hãy ráng đùm bọc thương yêu nhau khi còn sống chớ khi đã chết rồi có khóc thương cũng chỉ là nước mắt nhỏ trên nấm mồ vô tri vô giác mà thôi!’ Những lời nói đó đáng bọc vàng hơn tám chữ vàng “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” nhiều lắm. Một lời trăn trối lương tri này có đánh động trong lòng những ai vui sướng trong thanh bình còn sung sức “đấu tố” nhau trên mảnh đất mà Th đã đổ máu để bảo vệ này không? Nó sẽ như kim chích vào từng thớ thịt, như mũi tên đâm vào tim con người chân chính và sẽ vô tác dụng “trơ như đá tảng” với những kẻ muốn “nhất đái công thành vạn cốt khô“. Người ta có ai nhớ lời cuối cùng của Th: ”Sau này nếu được sống trong hoa thơm nắng đẹp của chủ nghĩa xã hội hãy nhớ và nhớ mãi cảnh này, hãy nhớ sự hy sinh của những người đã đổ máu vì sự nghiệp chung.Vì ai mà ta vất vả hôm nay hở các đồng chí?”. Hoa thơm nắng đẹp đã về nhưng tấm lòng ”nhớ người đổ máu’‘ thì tùy theo xếp loại công đức trên ”Bảng phong thần” mà định đoạt từng ”đồng chí” hy sinh hay tàn phế !

Tội nghiệp thay cho ước vọng nhỏ nhoi quá đổi bình thuờng của người con gái thích đem yêu thương để cảm hóa con người: “Mình sẽ về chắt chiu vun xới cho tổ ấm gia đình, mình sẽ quý từng phút, từng giây hòa bình ấy bởi vì có sống ở đây mới hiểu hết giá trị cuộc sống”. Nguyễn Du đã nhắc ”Đoạn đường ai có qua cầu mới hay” chính là đấy! Một ước mơ lương tri. Một lời thầm thì đi vào cõi vĩnh hằng sống dậy lại tiếp tục thầm thì như lo sợ một cuộc chiến tranh ngoại tộc thì một mà khiếp đảm một cuộc nội chiến anh em tương tàn lần nữa bùng lên, nổi lửa thiêu đốt hòa bình, gấp mười! Nói như Tùng Lâm “chúng ta kính cẩn nghiêng mình ngưỡng mộ…”. Ngưỡng mộ ở Đặng Thùy Trâm cái gì đây? Chủ yếu là chúng ta hãy sống yêu thương nhau và sống xứng đáng như một thời Th từng sống, từng mong mỏi. Thế thôi.

Đọc “Nhật ký Đ.T.T” mà không hiểu Th khao khát cái gì, đã nhìn thấy gì ở hai mặt chiến tranh, đã nhắn nhủ ta điều gì thì hóa ra, Th đã “chết thêm lần nữa” trong vô vọng vì con người ngày càng văn minh tân tiến, cách suy nghĩ về con người anh hùng của họ cũng chỉ là Robot cũng… “đáng nghiêng mình kính phục”!!! “Hãy đến với mình, nắm chặt bàn tay mình trong lúc cô đơn”, “Hãy ráng đùm bọc yêu thương nhau khi còn sống”. Những lời vàng ngọc này không chân thật hơn những câu khẩu hiệu bình minh trên lý thuyết mà kết quả là những bóng chiều tà sao? Nhưng lời vàng ngọc cỡ nào cũng có cát bụi ở trong.

Th cũng đã từng viết: “Danh dự là viên ngọc vô giá đừng để ai chà đạp lên đó cả, dù người đó có là ai, dù người đó có quyền lực đến mức nào đi chăng nữa”. Danh dự này của Th đã bị hạn hẹp nơi Đức Phổ. Toàn bộ nhật ký, nhân vật Th đã không chỉ rõ là mình đã “bảo vệ” nó bằng cách nào. Những cuộc họp kiểm thảo, chỉnh huấn Đảng, họp huyện Đoàn, Th đã không nêu lên được tiếng nói của mình. Có một cách “bảo vệ” hết mình là “im lặng”: Th đã bước qua dư luận dòm ngó vào tình cảm kỳ lạ chị-em của Nghĩa, của Thuận, vẫn tiếp tục những quan hệ tình cảm tốt đẹp đó dù có những e dè, kìm hãm sự vồn vã, thân mật. Th không thèm gặp mặt anh Năm Bí thư Huyện và không chấp hành lệnh “đi nghỉ” của anh nhưng đó không phải là đấu tranh. Đó chỉ là sự bướng bĩnh dễ thương của một người con gái “có lòng tự trọng” biết được sự nuông chìu của người khác. Đó không phải là “va chạm”. Những “va chạm” mà Th cho là “đáng ghê tởm”, “rùng mình“… Th đã không ghi vào nhật ký. Nhật ký cần sự thật nhưng sự thật trắng trợn như những trận đấu tố, Th có lý do để không cần thiết ghi lại. Đây cũng là hạn chế trong vấn đề đấu tranh của nhân vật. Tuy nhiên, ta nên hiểu: Cái xấu chỉ đáng nêu nhưng không đáng phanh phui. Con người theo cái tốt để tiến lên chứ không phải bám víu vào cái xấu để đi thụt lùi. Cung Tích Biền có nói: “Lịch sử từ lâu nhường buớc cho một đám sinh vật bốn chân thủng thỉnh đi qua”. Một ví von đầy hình tượng rất hay mà cũng đáng… đánh đòn!

Trong “Nhật ký Đ.T.T ” không có những con vật bốn chân, cũng chẳng có con vật hai chân mà chỉ có con người – một động vật cao cấp thoát thai từ vượn người nên còn ít nhiều… lông lá. Đó là một cách nhìn nhân đạo, tràn đầy xây dựng thương yêu. Toàn bộ cuốn nhật ký, ta không tìm ra một sự giận dữ của Th với đồng đội. Chỉ có trường hợp Th giận Phục – một cán bộ – “ăn nói bậy bạ” (!) và “không ưa Thành” (?) trong lúc sống. Th cũng giận Nghĩa “bội phản” (?) và giận Thuận “lầm lỗi” (?), buồn lòng nghe chị Hạnh nói (?). Rồi ta thấy, Th không nhắc đến cái xấu của Phục nữa. Th đào huyệt chôn Thành trong đau xót. Th chấp nhận sự làm lành của Nghĩa và càng yêu thương Thuận hơn sau cơn “lầm lỗi”, không nói gì về chị Hạnh nửa lời. Với Th, quan niệm: “Tha được thì tha” chứ Th không để bụng. Cho nên, những nhân vật trong “Nhật ký Đ.T.T” không có nhân vật phản diện đến mức phải “hạ độc thủ” bằng những ngón đòn cá nhân. Có chăng chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”. Trong “Nhật Ký Đ.T.T”, ta thấy người tốt nhiều hơn kẻ xấu mà thay vì đào thải, “cải giống” kẻ xấu chớ quên “nhân giống” người tốt. “Trồng người” tốt thì mới có người để chăm sóc rừng cây xanh mà Hồ Chí Minh đã kêu gọi: “Vì lợi ích mười năm trồng rừng”. Cây trồng không ai chăm sóc. Chết đứng giữa trời, trơ gan cùng tuế nguyệt!

Bản thân Th chưa thấy được “quyền lực” ghê gớm của thế lực thắng trận sau chiến tranh. Trong thế chiến thứ nhất (1914 -1918), Đức thua trận, chịu chi phí chiến tranh. Trong thế chiến thứ hai (1939 -1945), Hitle không còn điều kiện để đầu hàng quân đồng minh. Nhật đầu hàng vô điều kiện. Châu Âu bị chia hai cho Mỹ và Liên Xô. Ở Việt Nam, khi lực lượng VNDC mở chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng năm 1954, Pháp buộc công nhận VNDCCH và chia đôi đất nuớc. Năm 1975, Dương Văn Minh chẳng còn lý do để giữ gìn “danh dự” chết đứng hơn là đầu hàng. Kẻ “đuợc” thì làm “vua” nhưng kẻ “thua” thì không được làm “giặc”. Sức mạnh đó còn hơn những cơn sóng thần năm 2004 và mạnh hơn cơn bão Katrina cơ hồ xóa các tiểu bang của Mỹ và bạo hơn những lần động đất ở Pakistan năm 2005.

Giả sử Th sống đến ngày 30.4.75, Th tròn ba mươi tuổi, với năm tuổi Đảng, và chín tuổi nghề. Có là bao? Nguời ta sẽ mở lý lịch Th ra: Tiểu tư sản có tình cảm phức tạp, cần trau dồi chuyên môn. Vậy là đi đứt. Th có giỏi lắm cũng chỉ là một trưởng trạm y tá xã như Tạ Thị Ninh (em gái Thuận). Có đấu tranh cho lắm, tù tội cho hung cũng như Trần Văn Thường – phó chủ tịch mặt trận tổ quốc tỉnh Quảng Ngãi – một chức danh chỉ có hư vì! Th sẽ sống “lương thiện” ra sao? Quyền lực mà Th muốn chống cho đến cùng như Th từng phát thệ nó sẽ thổi bay cô giải phóng quân, bác sĩ quân y may mắn sống sót sau chiến trận vào mái ấm “thanh lọc Đảng”. Thà chết vinh trên chiến trường mới danh thơm muôn thuở. Cho nên, nói thẳng, viết hay chỉ chờ ngày được “đi mây về gió”.

Nói về từ “danh dự” của Th, ta cũng so một ý Trần Văn Chi trong bài “Đổi mới và bảo thủ trong ĐCSVN” (chắc ông đã đọc “Nhật ký Đ.T.T”) có viết: “Đại đa số miền Nam ra đi vì lý do họ bị tước đọat nhiều thứ mà quan trọng nhất là danh dự con người” không biết có phải từ “danh dự” mà nhân vật liệt sĩ anh hùng Đặng Thùy Trâm trong “Nhật ký Đ.T.T” đã quyết bảo vệ đến cùng dù gươm kề cổ, súng kề tai không? Chúng ta cứ bình tâm suy nghĩ bởi vì dù thua trận, nhưng hễ là con người phải có danh dự của riêng con người. Những con người thời chiến đã sống với danh dự đó như thế nào?

Nhật ký Đ.T.T” mở ra cho người đời sau từng trang lịch sử và con người anh hùng “sáng chói”trong thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ.

III. ”Nhật ký Đ.T.T”: Chủ nghĩa anh hùng cách mạng và ngọn lửa căm thù:

1. Những năm tháng không thể nào quên:

Nhật ký thiên về ghi chép sự kiện nên vì thế có một số sự kiện lịch sử quan trọng được Th đưa vào.

Nếu “Mẫn và tôi” của Phan Tứ được đánh giá “như một cuốn sử thi từ Quảng Ngãi đến Bình Định” theo Phan Cự Đệ (Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại ) thì “Nhật ký Đ.T.T” chỉ ghi lại một vài sự kiện lịch sử nhưng tầm vóc có liên quan thế giới.

Th đã ghi lại cụ thể: “ngày 12.5.1968 Hội nghị Paris” trong nỗi vui như “những ngày tháng năm 1954 đấy chăng” để mong hòa bình vì “nuớc mắt chúng ta chảy nhiều rồi, xương máu cũng đổ nhiều rồi”. Những thống kê của những nhà viết sử ( Lê Xuân Khoa, Lê Mậu Hãn ) có cùng con số tương tự tử vong của cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968: 5000 quân giải phóng tư trận so với 384 lính cộng hòa chết và 1.830 bị thương trong khi lính Mỹ bị bắn 216 và 1354 bị thương. Mồ chôn tập thể các phần tử chung là 2.810 người không kể hàng nghìn người khác bị mất tích.

Dẫu Hà Nội không thắng lợi trong cuộc tổng tấn công 1968 đó nhưng có quá nhiều thương vong đã dẫn đến sự lung lay nền chính trị Mỹ. Tổng thống Johnson không dám ra tranh cử nhiệm kỳ II. Nixon dễ dàng bước kên “ngai vàng” kế vị và chịu cùng Hà Nội đàm phán hòa bình không phải ngày 12.5.68 như Th viết mà từ ngày 10.5.68 đến chính thức có “bốn bên” là ngày 25.1.69 (Mỹ: Henry Cabot Lodge; VNCH: Phạm Đăng Lưu; Hà Nội: Xuân Thủy; MTGPMN: Nguyễn Thị Bình thay cho Trần Bửu Kiếm). Hiệp định Paris chính thức ký ngày 27.1.1973 mà Th không còn được nghe. Th còn ghi lại mốc 10.10.68 là ngày kỷ niệm mười bốn năm giải phóng thủ đô Hà Nội tức là 10.10.1954.

Mốc 1954 gợi lại cho ta một Điện Biên Phủ với bài “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” của Tố Hữu kịp thời có mặt trên tầng cây số nóng hổi của lịch sử. Công lao của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên chiến trận cũng như “thừa tướng” Tố Hữu trên mặt trận văn hóa tư tưởng có thể xem ngang hàng “nhất phẩm” và rồi cũng sẽ như Đặng Dung ôm cái “anh hùng di hận kỷ niệm niên niên” vào lòng để làm qùa sang bên kia thế giới cùng vui với hồn ma bóng quế. Xưa nay công thần nào mà chẳng có lúc thất thế sa chân! Công lao hạng mã ngày xưa chỉ là nỗi buồn đầu bạc cuối đời. Ngao ngán đấy!

Cuộc cách mạng ở miền Bắc hiển nhiên được công nhận “chính nghĩa” vì chống Pháp và sau đó là chống Mỹ (thời điểm 1973). Những mốc thời gian Th ghi tương đối khá chính xác dù vắn tắt nhưng nếu không phải là người yêu đất nước, sợ cảnh máu đổ, xương tàn thì không ai lụm cụm ngồi viết những cái mốc lịch sử như vậy trong nhật ký riêng cá nhân. Nhật ký Thạc là những trang viết về đời thường. Nhật ký Th là những trang viết về lịch sử. Đời thường cho ta cách sống. Lịch sử cho ta lương tri. Th đã ghi:

– 30.11.1968 miền Bắc hòa bình

– 11.6.1969 chính phủ lâm thời

– 1.11.1969 Hồ Chủ Tịch đọc chúc Tết

– 3.9.1969 lúc 9’47’’ Bác Hồ mất (nét chữ chụp đoạn này là bút tích duy nhất giống nét chữ bản chép tay).

Th đã khóc Bác vào ngày 3.9.69 nhưng hỡi ơi lịch sử Đảng CSVN không thật với ngay cả dân miền Bắc – cái nôi của cách mạng – bởi vì ngày Bác Hồ của Th mất là ngày 2.9 trùng ngày Quốc khánh của VNDCCH (phân biệt với VNCH). Vậy thì niềm vui và niềm đau trộn lại, Th hãy “vừa khóc, vừa cười” mỗi năm cũng không muộn màng gì. Trái tim mà Th từng mong “hòa được khắp trong tầng lớp nhân dân” nay đuợc Thủ tướng đương đại Phan Văn Khải “nâng cấp” lên “hòa đồng cả mọi dân tộc trên thế giới”. Đó là vì cái gì nếu không là sự dám hy sinh để bảo vệ một chế độ mà chế độ đó đang nắm vận mệnh đất nước. Còn những người hy sinh khác, tàn phế khác trong những năm tháng đã từng bị lãng quên này, họ có được người ta coi trọng như Th, nâng cấp hy sinh lên một mức ”thế giới” như Th? Thế nhưng, “những năm tháng không thể nào quên” của Th được ghi dấu bằng “lửa căm hờn” mà chính trung sĩ phiên dịch tiếng Anh, Nguyễn Trung Hiếu đã với Fred: “Fred, đừng đốt cuốn sổ này. Bản thân trong đó đã có lửa rồi” (theo ”Câu chuyện về những tấm lòng”, Đặng Kim Trâm trong ”Nhật ký Đ.T.T”). Lửa của Th., một thứ lửa căm hờn của Tnú. Một thứ lửa chiến tranh. Ngọn lửa này đã làm đôi mắt thần chủ nghĩa của Th rực cháy và Th đã ghi vào trang đầu: ”Những ngày rực lửa. Vui, buồn đọng giữa tim ta”.

2. Lửa căm thù cháy thiêu lòng nhân ái:

Nhân chi sơ tánh bản thiện”. Con người sinh ra vốn lương thiện nhưng đều có sự phản kháng để tự vệ khi bị tấn công. Điều đó, ta thấy bất thình lình, ta bị những con rắn, rít, bò cạp, chó mèo… táp, chích, đớp cho chạy nọc khi vô tình dậm phải chúng. Một phản xạ vô điều kiện trong sinh học. Với con người, động vật cấp cao hơn đã biết phản xạ có điều kiện mà lịch sử nhân loại, lịch sử dân tộc phản ánh rất đầy đủ qua những cuộc chiến tranh thế giới, chiến tranh tự vệ (nội chiến, tương tàn). Có chiến tranh tất có chết chóc. Có đổ máu tất có căm thù.

a. “Nhật ký Đ.T.T.”: Tràn đầy lửa căm thù:

Có những giấc mơ đâu chỉ toàn là ác mộng. Bản thân con người sinh ra không cười mà lại khóc mếu đó sao? Tiếng khóc sinh lý đó đem lại cho người niềm vui còn tiếng khóc tâm lý mới đưa con người vào hận thù không khi nào chấm dứt. Thái độ căm thù chỉ bộc phát khi con người bị mất mát, bị tấn công, bị cướp giật quyền sống, bị đối xử tàn ác… là căm thù mang tâm lý cá nhân. Căm thù mang tính dân tộc là khi một nước này bị một nước kia xua quân xâm lấn.

“Nhật ký Đ.T.T” mang cả hai căm thù cá nhân và căm thù dân tộc. Nhân vật Th cũng đã chiến đấu vì lòng căm thù ấy. Nhưng nói cho cùng, Th không bị ai tước đoạt cái gì, chẳng bị đối xử tàn ác mà trái lại, Th “được cưng chìu”. Th căm thù khi đồng đội ngã xuống. Nét căm thù cá nhân đã nằm trong “căm thù” chung của miền Bắc. Nét căm thù này xuất phát từ lòng nhân đạo -cội nguồn của giữ gìn đất nước.

Trong “Nhật ký Đ.T.T”, mỗi một đồng đội hy sinh đều nâng mức căm thù trong Th. Ví dụ, chỉ một “đồng chí bộ đội” ngã xuống trong túi là tờ thư “Đợi anh về” của người yêu, Th đã giận dữ kết án: “Tội ác kẻ giết người là đế quốc Mỹ”. Thấy cảnh bệnh xá nghi ngút cháy, Th đã hạ quyết tâm: “Đánh cho không còn một tên đế quốc Mỹ nào”. Trên chiến trường, Th không là cô bé Sulico mơ màng nghe những bản vọng cổ, nghe tiếng mưa rơi, nhìn tia nắng ấm, ôm ấp thương yêu mà là một người chiến sĩ. Bom tiếp bom. Đạn tiếp đạn. Thù tiếp thù. Th mượn ngày San về lại Bắc để truyền hận thù: “Hết giặc Mỹ mới thực sự có cuộc sống mà thôi”.

Ý thức dân tộc từ cánh tay “Sát Thát” (giết Mổng Cổ) của quân binh nhà Trần đã được Th triệt để sử dụng vào công cuộc chống Mỹ. Hình ảnh ”đống xương vô định còn cao bằng đầu” của thời xưa để nói cái ý “Nhất đái công thành vạn cốt khô” cũng là “Xương dày nuối chí hờn căm” biến trái tim con người thành đá căm hờn. Th trút hết căm thù vào Mỹ và nhìn Mỹ như một kẻ khát máu khi thấy mẹ con chị Hương (đồng nghiệp) bị thương nặng: “Đáng ghê tởm vô cùng bọn Mỹ khát máu”. Cuối cùng Th kết luận: “Xương máu đã chất cao như ngọn núi căm thù sừng sững trước mắt chúng ta. Bao lâu đuổi hết lũ quân uống máu người không tanh ấy?”.

Một trăm năm bị Tàu đô hộ, dân tộc Việt Nam sống dở, chết dở vì sự thống trị tàn bạo của những tên thái thú Tô Định, Nhâm Diên. Tội ác kẻ thù qua các triều đại đô hộ đã được Nguyễn Trãi kể rõ trong “Bình Ngô đại cáo”: “Cuồng Minh tử khích, nhân dĩ độc ngã dân; ác đảng hôn gian, cách dĩ mại ngã quốc. Phiến thương sinh ư ngược diệm, hãm xích tử ư họa khanh. Khí thiên võng dân, quỷ kế cái thiên vạn trạng… Bại nghĩa thương nhân, càn khôn có hồ dục tức, trong khoa hậu liễm, sơn trách mỹ hữu kiết di…”

Cuồng Minh mượn cớ nhiễu nhương.

Gian tà bán nuớc, một phường cầu vinh.

Lửa hung tàn nuớng dân tình

Hầm giam con đỏ bỏ mình tai ương.

Dối trời, lừa đất khôn lường

Hai mươi năm kế kiếm đường hại dân.

Càn khôn nát nghĩa bại nhân …

Núi non thuế má vét gần lộ xương

Đào mỏ núi, lam chướng thừa

Xuống biển mò ngọc chưa vừa túi tham…”

(Người viết chuyển thể)

Tội ác như thế, ai không căm hận? Một ngàn năm qua đi. Một trăm năm lại tới. Lính “commăngđô” khét tiếng chặt đầu, lột da, dìm hết những cuộc khởi nghĩa chống Pháp vào thế kỷ XIX vào biển máu mà Nguyễn Đình Chiểu trong bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” (Tế lính Trương Định) nêu rõ: “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan. Ngày xem ống khói chạy đen xì muốn ra cắn cổ”. Căm thù cỡ đó đủ biết giặc Pháp ác đến bực nào. Bài Văn tế thống thiết như thế, đậm đà tình yêu nuớc, thương nòi như thế, được xếp trong một phép đối đầy biện pháp tu từ như thế mà nhìn không ra “cái hay, cái đẹp” anh hùng của những người nằm xuống, quả thật tâm hồn con người đã đến lúc rêu phong!

Một trăm năm cũng qua. “Hai mươi năm nội chiến từng ngày” lại đến! Mỹ theo chân Pháp không đúng thời cơ vô tình hốt trọn sự căm hờn hơn bốn ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Mỹ hiện diện trong “Bà má Hậu Giang” của Tố Hữu không phải là con người nữa:

Một thằng Mỹ mắt xanh, mũi lõ

Mắt diều hâu mũi chó, râu dê

Súng trường nhọn hoắt lưỡi lê

Khét nồng khí chết, tanh dề máu oan…

So với bọn giặc cuồng Minh của Nguyễn Trãi: “Thằng há miệng, đứa nhe răng máu mỡ bấy no nê chưa chán” cùng một nòi loài động vật hai chân ăn thịt người. Kinh khiếp thay cho trí tưởng tượng văn học. Tội nghiệp, ngay cả chàng binh nhì thông tin có tiếng ”văn võ song toàn” Nguyễn Văn Thạc mà ra trận cũng không hình dung nổi Mỹ là gì? Thạc tự hòi ”nó là cái gì mơ hồ thế?… hẳn đó là cũng khuôn mặt người bị bóp méo xộc xệch. Hẳn đó là bộ mặt nhăn nhúm trước ánh sáng mặt trời” (”Mãi mãi tuổi hai mươi” ngày 15.11.71). Không biết Mỹ sao lại căm thù Mỹ đến độ một mất một còn trong Thạc: “cánh tay này sẽ bóp nghẹt cổ quân thù”. Căm thù kinh khủng cho cánh tay… “Sát Mỹ”!

Th và Thạc có nhìn Mỹ dưới góc độ con thú cũng không sao. Xét cho kỹ về mặt nhân đạo: Người Tàu, người Pháp, người Mỹ đâu phải ai sinh ra cũng muốn đi làm ma cà rồng hút máu người. Ngay cả những lứa tuổi thi hành nghĩa vụ quân sự của lớp trẻ miền Bắc dù được trang bị kỹ tư tưởng đánh Mỹ mà vẫn bỏ trận, đào ngũ, ”đánh nhau, cãi nhau, đánh cắp của nhau. Ba phần tư số xoang quân dụng bị mất rồi quân trang, quân dụng mất lung tung! Tệ quá ” mà Nguyễn Văn Thạc đã ghi lại trên trang giấy bằng ”những câu văn vội vàng, bụi bặm”. Xâm lược chỉ là lý tưởng của một bộ phận đang nắm guồng máy chính trị của một dân tộc. Nhân dân nằm trên guồng máy đó. Lịch sử dân tộc nào chẳng có một lần bị coi là xâm lược. Việt Nam ta đâu phải không có. Chế Lan Viên không phải đã từng để tang cho dân tộc Hời trong ”Điêu tàn” hay sao? Đâu bỗng nhiên mà có một ”Hận Đồ Bàn” trên Tây Sơn đất đỏ, trên Phan Thiết cát khô? “Mạnh được, yếu thua” là lẽ tất nhiên của “được” và “mất”. Dân tộc nào cũng biết xót xa khi mất mát và đau đớn khi chia lìa, hận thù khi chết chóc. Đâu chỉ mình dân tộc Việt Nam biết đau? Đâu phải chỉ mình Th biết xót?

Quân mình chết, mình đau. Lính người chết, mình vui. Có cái gì mâu thuẫn lương tâm quá! Trong “Nhật ký Đ.T.T”, hình ảnh nhân vật Th reo vui trước thành tích của những em bé mà Th ca ngợi: “Các em đã anh hùng từ trứng nước.” Th ghi: “Em Hùng 14 tuổi giết 6 lính Mỹ… Em An phổ Nhơn lấy 5 súng, 2 cối cá nhân, 1 đài RC”. Lời tự hào sao như bản án tử hình dân tộc đã đến. Mới nức mắt đã yêu căm thù, yêu giết giặc hơn yêu lời ru của mẹ. Những hình ảnh đó tràn đầy trên chiến trường Trung Đông hiện nay đã thật sự gây kinh hoàng, bất nhẫn trong những trái tim yêu hòa bình với tấm chân tình nhân đạo mà người ta chẳng hề nghĩ đến tuổi thơ? Tội ác đã mò đến tuổi thơ như con sâu ăn hết đọt mầm xanh đất nước. Th có nhìn ra không? Th vui mừng khi “kiểm điểm binh mã” với sự “hao binh tổn tướng”: Về phía mình: “1du kích hy sinh, 2 bị thương” để lấy: “14 tăng, 1HU-1A, 15 xe nhà binh, diệt 150 Mỹ”. Thiện xạ vô cùng nhưng xem lại: 1 anh hùng của giải phóng quân (1 hy sinh) đối lập 150 anh hùng của Mỹ (150 bị diệt). Vô tình, đồng đội Th đã tạo ra cho dân tộc Mỹ nhiều anh hùng như vậy! Không phải những ai chết trên chiến trường đều là anh hùng hay sao?

Th vẫn lao vào lửa căm hờn đó cho tới chết. Th đã đưa ngôn từ hết sức nặng nề khi nghe tin Nixon mở cuộc chiến vào Đông Dương và miền Bắc cũng đã điều thêm quân vào “chiến trường đi chẳng tiếc máu xương” qua đường mòn Hồ chí Minh. Ngày 5.5.70 trang 241, Th viết: “Thằng chó đểu Nixơn đã liều lĩnh điên cuồng mở rộng thêm cuộc chiến. Chúng ta sẽ phải đương đầu với một khó khăn ghê tởm hơn nữa đây. Nhưng tao đã thề cùng các đồng chí của tao rồi, dù có chết cũng quyết đánh đến cùng… Ôi! Căm thù đến bầm gan tím ruột”. Hình ảnh cô gái ôm đàn guitar hát những bài tình ca biến thành bài ca thù hận. “Mỹ” đẹp đẽ đã thành “quân khát máu”, “quân chó đểu”, “quỷ cướp nước” mà Th căm ghét đến tận xương tủy. “Ăn gan, cắn cổ” tới nơi rồi còn gì! Cuốn Nhật ký… khạc ra “lửa” là vậy!

Nhưng quanh đi quẩn lại, Th chưa mở lòng ra nghĩ tới người nào không có cha, có mẹ, có vợ, có chồng, có anh em, bạn bè, người yêu và có cái lớn lao hơn là tổ quốc? “Ăn cơm chúa phải múa tối ngày”, “Ăn lộc Vua sao không cày trả nợ”? Tuổi thanh niên ở Mỹ hay tuổi thanh niên ở bất cứ nước nào, không đi lính khi tổ quốc cần thì đi đâu? Trường huấn luyện nào mà không có mục tiêu (“target”) buộc học viên phải nhắm cho đúng và bắn cho trúng? Kẻ thả bom phải thả cho chính xác. Bắn không trúng. Bom ném trật. Có mạng mà trở về trình diện với thủ trưởng là phước bảy đời!

Trên chiến trường không có tình cảm riêng. Nếu mảnh pháo có mắt, chúng đã không chém đứt hai bắp đùi của Thạc vào ngày 30.7.72 và họng súng kia sẽ quay hướng khi nhắm vào trán của Th ngày 22.6.70? Nếu súng đạn có mắt, còn ai trở thành anh hùng trên chiến trận? Hóa ra những thợ khắc Huân chương chiến công, Bắc đẩu bội tinh… đói chết trơ xương vì chẳng có ai “đặt hàng” (“order”) gì cả?!

Chết vì nghĩa khí, vì Chúa, vì Vua, vì đất nước mình sống, đều là cái chết đáng lưu sử xanh. Quan Công bị Tháo bắt, thà chịu chém chứ không đầu Tào. Trần Bình Trọng thà làm quỷ nước Nam. Toa Đô thua trận ở Tây Kết mà bị cắt thủ cấp, Trần Hưng Đạo cảm kích cởi ngự bào đắp cho như tôn kính kẻ anh hùng. Sầm Nghi Đống cùng đường phải thắt cổ ở gò Đống Đa thà chịu chết. Nhân dân lập tức lập miếu thờ. Võ Tánh, Ngô Tùng Châu người tự thiêu, người uống thuốc độc vì thọ ơn Nguyễn Ánh mà không đầu hàng Tây Sơn. Người liêm sĩ, kẻ anh hùng xưa nay đều tỏ khí tiết vậy cả.

Không ai yêu thích chiến tranh. Th cũng biết: “Chiến tranh không bao giờ mang lại hạnh phúc cho hai lớp người đối đầu giữa hai trận tuyến nhưng chiến tranh giúp con người giải quyết vấn đề độc lập tự do hay nô lệ một cách triệt để”. Những người trên chiến trận đâu phải hoàn toàn là những người tự nguyện? Trong “Phận bạc”, Vũ Tiến Dũng đã để nhân vật mình phát biểu: “Xông lên thì chết vì đạn địch mà không xông thì chết vì đạn ta. Sau mỗi đợt xung phong lại thấy thiếu mất vài người… Chiến tranh là cái mà người dân lành không muốn.”.

Th cũng không hề biết chính những người dân lành ở Mỹ, họ ghét chiến tranh và hầu hết khi có cuộc chiến với nước nào, họ vẫn biểu tình (đây là quyền tự do ở một nước tự do). Tờ “Người Việt” số 6720 ngày 1/5/2004 có đăng: “Rất nhiều cuộc biểu tình quy tụ hàng trăm ngàn người, cả sinh viên đại học và dân chúng trên cả nước Mỹ liên tục những năm 1968-1970, vừa làm suy yếu tinh thần quân đội, vừa tạo ảnh hưởng trực tiếp đến chính tình Mỹ vốn tùy thuộc hoàn toàn vào lá phiếu trực tiếp của dân”.

Nếu không có những cuộc biểu tình đó như “góp một bàn tay” bẻ giò chính phủ Mỹ thì Quốc hội Mỹ không cắt viện trợ cho VNCH và rút lui để ra đi trong “danh dự” thì cuộc Nam tiến của miền Bắc đâu thể nào thắng VNCH dễ dàng như vậy? Mất tinh thần. Mất tự tin. Mất viện trợ. Mất những kẻ như Đ.T.T, như NVT… ở chiến trường. Mất trắng! Th cũng đâu có biết, số phận liệt sĩ cũng lắm gian truân. Trên con đường từ Bắc vào Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, đâu phải cái nào cũng được về “nơi an nghỉ cuối cùng” như Th. Kẻ hy sinh trong thất bại càng thê thảm hơn:

Bóng ngày qua, bóng ngày qua

Giờ đây người lính đã ra đi rồi

Bóng chiều rơi, bóng chiều rơi

Nghĩa trang lạnh lẽo, nơi nơi hoang tàn

.…

Đồi xanh mộ chí ai ơi

Không người thăm viếng, không người trông nom

Nhà quàn lạnh lẽo sớm hôm

Chim non chíp chíp gọi đàn về đây…

(Thăm nghĩa trang Quân đội Biên Hòa –Tô Sơn, báo “Người Việt” số 7128 ngày 13/6/2005)

Ngọn lửa căm hờn của Th ngày nào tận ba mươi lăm năm trước rực trong đôi mắt mộng mơ khi đọc những câu này có chút nào dịu xuống? Th đã không phải tâm sự với em mình “chị sẽ đem lại ánh sáng cho những đôi mắt tật nguyền” sao? Biết hận thù đúng mức và dừng lại đúng lúc thì cuộc đời không còn “những đôi mắt tật nguyền” với “con tim mù lòa” lòng nhân ái, là đá tảng với thương đau.

Còn thằng Mỹ thì không ai hạnh phúc nổi” mà Th nhắc trong nhật ký không phải của liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi ”Chín phút ra pháp trường” sao? Giờ không còn “thằng Mỹ” nên Th yên lòng nhắm mắt vì “ai ai cũng hạnh phúc cả rồi”. Người đứng đầu chính phủ đương đại đã vỗ về linh hồn Th và Thạc trên báo Tuổi trẻ ngày 4.8.05: ”hãy yên nghĩ… hành trình của các em đang được tiếp nối ngày càng xứng đáng, lý tưởng của các em nhất định sẽ được thực hiện thành công”. Cứ nghĩ như vậy đi như ba mươi lăm năm về trước, Th đã nghĩ miền Nam nghèo khổ, thương đau cần… giải phóng !!?

b. Thực tế về cái nhìn miền Bắc đối với miền Nam:

Không biết căn cứ vì đâu hoặc vì đòn “chiến tranh tâm lý” mà miền Nam trong tầm mắt miền Bắc anh em là “nghèo khổ, bom đạn” chính là mục tiêu “giải phóng miền Nam” sau 1973, Mỹ cuốn cờ kéo về nước. Nam tiến sau 1973 thành cuộc chiến huynh đệ tương tàn không khác gì thời Bắc-Nam, Trịnh-Nguyễn hoặc Vua Lê (Bắc), Nguyễn Huệ (Trung) và Nguyễn Nhạc (Nam) phân tranh suốt bốn mươi lăm năm ròng rã…

Cuộc Bắc tiến hay Nam tiến (nếu có) sau 1973 thì cũng làm một cái việc “thống nhất đất nước” như Nguyễn Ánh đã làm. Hiệp định Paris không quy định cấm Bắc tiến nên Bắc cứ tiến. Miền Nam lúc đó có ai xâm lược đâu mà vào giải phóng? Nước mắt Th nhỏ xuống cho đồng đội vì bom đạn Mỹ mà hy sinh, có còn giọt nào để cho người ngã xuống không vì bom đạn Mỹ mà cũng hy sinh vì súng đạn của Nga sô, Trung Cộng? Miền Nam trước đây có vựa lúa khổng lồ Đồng Tháp Mười quanh năm dư thừa nuôi sống mười bốn triệu dân miền Nam lúc đó. Bây giờ, nguồn xuất khẩu nhì, ba gạo của Việt Nam trên thế giới không phải là vựa lúa miền Nam sao? Hòn ngọc Viễn Đông – Sài Gòn thời đó cũng lộng lẫy bậc nhất nhì Đông Nam Á, không nghèo nàn như sau 1975 khi “xóa bỏ chế độ người bóc lột người” từ Bắc trùm lên miền Nam.

Tiếc thay, Th cũng chỉ là người được học về miền Nam trên sách vở. Nếu bây giờ, có ai còn nói miền Nam thời đó như Th nghĩ: Nghèo khổ, đói rách, bom đạn, không tự do, ta nghĩ chắc lịch sử đã đến giờ khóa sổ. Dù sao, Th cũng được gọi là “anh hùng” ngang hàng với những “anh hùng” trên thế giới. Công nhận “anh hùng” cho Th mà “phủ nhận” tính cách anh hùng của những người lính bám trụ miền Nam sau ngày 27.1.73 và những người lính chết vì Trường Sa là một sai sót, không công bằng của lịch sử. Có ba Th: Một Th ngã xuống vì đạn Mỹ năm 1970, một Th ngã xuống vì pháo Mỹ năm 1972 và một Th ngã xuống vì pháo Trung Cộng ở Hoàng Sa năm 1974. Thế nhưng, hai Th là anh hùng còn một Th là con ma lang thang… ( Thượng tá Ngụy Văn Thà hạm trưởng HQ10 cùng Lê Văn Tây, Đinh Hoàng Mai, Lê Anh Dũng chết theo tàu HQ10 đã bị Trung Quốc bắn chìm ngày 27.1.74 tại đảo Hoàng Sa). Có ai đó đã viết những lời thơ tang thương mà Hoàng Xuân Bái trong đặc san ”Lướt sóng”- 2002′ đã ghi lại:

… Tôi biết mùa xuân chưa đến bao giờ

Ngực đảo còn đau ngàn bàn chân lạ.

Hoàng Sa, xa vời ơi Hoàng Sa

Tên người ngân buồn như bản thánh ca.

Bài thơ không tác giả nhưng có một tấm lòng đáng để ngợi ca về những con người sinh ra, chiến đấu với số phận nghiệt ngã mà không ai mong muốn.

Đời không thiếu kẻ anh hùng. Nhưng có ai đi cầu cạnh một chữ anh hùng cho có vị đâu. Vấn đề ở đây tức là ”đánh giá, công nhận giá trị hy sinh” của những người bỏ mình vì đất nước. Điều này cần những người viết sử có trái tim là tiếng nói của công lý thì may ra. Tìm một người viết sử Tư Mã Thiên hay Trần Trọng Kim như “mò kim đáy biển”. Nhưng cứ tin rằng: ”Sương mù dày cỡ nào cũng đến lúc rời xa đỉnh núi. Sự thật đánh lừa, lịch sử cũng phanh phui”. Những người chủ trương “phục quốc” với mục đích cá nhân dẫu so tài lý thuyết cũng chẳng thể nào chịu nổi một ”chiêu” của các nhà “đại ảo thuật gia” dầy dạn kinh nghiệm trên chiến trường chính trị! Có đương đầu bằng súng đạn, bom mìn tân tiến cũng không có một “anh hùng mũ đỏ tên Đương”, ”anh hùng Hải quân áo trắng tên Tuấn” và một tướng Phú, tướng Nam, thứ hai! Chủ trương “tự mình” cứu mình của Phan Chu Trinh hay “nhờ người cứu mình” của Phan Bội Châu hoặc tiếng bom Sa Diện Phạm Hồng Thái cũng không còn “hậu duệ”! Thời đại đã khác xưa rồi. Lịch sử đang đi bằng hai chân lại phải đi thêm hai chân nữa thì loài người trở lại thời nguyên thủy vì mọi thứ đã bị: phá hết, giết hết, đốt hết. Ta đã thấy một hiện thực lịch sử đi qua đôi mắt:

Miền Bắc không giỏi gan lỳ sao họ có thể kiên trì trong ”Chín năm làm một Điện Biên. Nên nhành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” đánh bại Thiếu tướng De Castries làm nên Điện Biên Phủ buộc Pháp ký hiệp định Giơneovơ ngày 21.7.1954 chia đôi đất nước? Miền Bắc không lanh mưu, lắm chước so có thể buộc chân Mỹ vào hội nghị Paris ngày 21.1.1973 dẫn đến sự truất phế tổng thống được coi “có máu mặt” của VNCH là Thiệu đưa đến sự cáo chung của chế độ VNCH ngày 30.4.75 – ngày mà Nguyễn Văn Thạc đã tiên tri hẹn cùng Như Anh nối câu ân tình nhưng chỉ mình Như Anh trở lại!, cũng là ngày mà Th mơ ước thanh bình để về gặp ba má cũng chỉ còn mỗi má ba!. Kẻ thắng trận cũng tan tác mà người thua cuộc càng nát tan hơn!

Ai chiến thắng mà không hề chiến bại

Ai nên khôn không khốn một lần.

Câu thơ của Tố Hữu mà Th đã ghi vào nhật ký nó có tính chất biện luận cho sự thắng bại, tồn vong… là lẽ tất nhiên của một thời đại, một chế độ, một quốc gia. Thêm một bước nữa, Đảng CSVN không khéo léo sao có thể đẩy lùi được sự xâm lược ồ ạt của Trung Quốc trong những năm 1979 vào sáu tỉnh biên giới phía Bắc ngày 17.2 – 4.3.1979. Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm. Ba mươi năm hòa bình cũng chưa phải là con số “thọ”. Người anh em “môi hở răng lạnh” kia nóng, lạnh, sổ mũi bất thường. Những người bạn láng giềng cũng đâu có nguôi “hận Đồ Bàn, bạo tàn Pônpốt?”. Và nếu họ bất thình lình quay ngược mũi súng hướng về tổ quốc Việt Nam trên công xuống, dưới kích lên, kẻ “đứng mũi chịu sào” vẫn là Đảng CSVN và quân đội, nhân dân của họ chứ nào phải những kẻ ở bên kia bờ đại dương? Lúc này, đất nước lâm nguy, có ai xứng đáng làm Trần Hưng Đạo ”vì nước quên thù nhà” hay không? Những kẻ ”cõng rắn cắn gà nhà” đã bị lịch sử nguyền rủa đời đời, nhân dân khinh ghét kiếp kiếp. Nếu hôm nay, người ta chưa nhìn thấy thì ngày mai, lịch sử sẽ nhìn ra kẻ đó là ai?

Mỹ chỉ có hai đảng: Dân chủ và Cộng hòa trên tổng hai trăm rưỡi triệu dân. Di dân Việt Nam chỉ hơn một triệu ở Mỹ trên tổng số hai triệu tám ở hải ngoại mà có biết bao là đảng phái? Nội công việc bầu chọn một “thủ lĩnh” thôi, sự tranh chấp sẽ thành: “Máu anh em nhuộm đỏ Thái bình dương, tanh hôi ngàn năm không sao sạch. Xương cốt nhục phủ trắng Đại tây dương, dơ bẩn vạn kiếp chẳng phai mờ”. Một bài học của những cuộc khởi nghĩa không liên kết thời thực dân Pháp dù cho ba mươi năm đấu tranh của Hoàng Hoa Thám được coi là cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại nhất cũng chỉ còn: “Máu nhuộm đỏ lá rừng Yên Thế. Xương trắng đồng nức nở chiến khu.”. Trịnh Công Sơn chết rồi, người kế vị chưa có, lấy ai viết lên những ca khúc phản chiến ngậm ngùi!?

Không ai muốn đẩy con em mình vào vòng lửa đạn vô vọng như vậy cả. Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc, Hoàng Thượng Lân… và những người ngã xuống phía bên kia, ai cũng mong có người viết tiếp trang nhật ký hòa bình chứ nào muốn viết tiếp trang máu đổ ”mẹ già khóc trẻ” vì chiến tranh là giải pháp cuối cùng chỉ có thể xảy ra khi người ta buộc phải dùng vũ lực để chọn: Tự do hay nô lệ. Chúng ta không phải là dân nô lệ. Chúng ta chỉ đang thiết tha mong muốn chữ ”tự do” cũng như Th, như Thạc mong ước. Sự đòi hỏi này ai sẽ là kẻ chịu trách nhiệm phát ban? Nhân vật Th đã ghi lại lời mẹ Thiện (đứa con trai duy nhất theo cách mạng, xin phép ba lần về thăm mẹ mà không được) ”tự do” mắng vào cấp trên của Thiện: “Anh không xứng là đồng hương vì anh không có chút tình quê hương. Anh không xứng là thủ trưởng vì anh không có tình đồng đội”. Câu chửi thật… hay. Đúng là câu mắng mỏ ra trò của lịch sử. Nếu có “đập” Đ.T.T hay “đập” Ban biên tập không cắt câu này thì hãy “đập” người viết bài này trước vậy!

Một sự kiện cần nói thêm trước vong linh Đ.T.T : Miền Nam không nghèo như trong mắt người miền Bắc nhưng miền Nam sợ một từ mà Th chưa bao giờ được nếm mùi là mọi giai cấp, mọi thành phần, giới tính, tuổi tác đều sợ từ “Việt cộng” hơn sợ “ngáo ộp”. Thanh niên sợ bắt lính một nhưng sợ bắt đi lên núi mười. Đó là sự thật. ”Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi… dẹp lép”. Đã ba mươi năm rồi mà cảm giác sợ hãi tâm lý vẫn còn nặng nề trong tâm hồn những người sống qua hai thế hệ. Chiến tranh qua rồi thì “trung ngôn nghịch nhĩ”, “công thần chết oan”. Lịch sử nào, triều đại nào mà không tránh khỏi “điểu tận cung tàn”!. “Giữ chùa ăn oản chùa”, đó là lời sấm ký của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là sấm ký của lịch sử. Lịch sử không bao giờ đi thụt lùi nên chúng ta đừng bao giờ đẩy lùi lịch sử bằng đôi tay thô bạo và súng đạn.

Trên con đường lịch sử đã đi, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của thời chống Pháp, chống Mỹ ở miền Bắc nói chung và của Th nói riêng đều mang tính tất yếu của lịch sử.

3. “Nhật ký Đ.T.T.” mở lại một thời “chủ nghĩa anh hùng cách mạng” trong lịch sử văn học:

a. Về những con người đặc biệt là phụ nữ:

Sự hy sinh của Th là một trong vô số người phụ nữ ngã xuống. Th là một bác sĩ Hà Nội cầm súng ngã xuống. Dương Thị Xuân Quý là một nhà văn Hà Nội cầm súng ngã xuống. Người con gái thanh niên xung phong không tên hồn nhiên, trong sáng, ngã xuống và đi vào thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trong “Khoảng trời hố bom”:

Có phải thịt da em mềm mại trắng trong

Đã hóa thành những làn mây trắng.

Và ban ngày khoảng trời ngập nắng …

Hỡi mặt trời hay chính trái tim trong ngực soi cho tôi…

Đọc thơ là thưởng thức “hồn thơ”. Ta không cần biết tác giả là người được thương hay ghét, thuộc tầng lớp nào, chế độ nào? Con ong hút mật có bao giờ phân biệt hoa đẹp xấu ra sao? Một thời chiến tranh đã đi qua trong Nguyễn Thị Hồng Ngát, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Nguyễn Thị Thu Trang, và đọng lại một bài thơ đã giã từ sách giáo khoa. Đó là bài “Giấc ngủ nàng tiên dũng sĩ” của Dương Hương Ly mà người viết bài thuộc lòng từ cấp hai. Nàng tiên ấy như nàng tiên Thùy Trâm sau tiếng bom rơi:

Em ngủ vườn trưa xanh nắng thưa

Gió hiu hiu hát mát thân dừa.

Tấm dù em đắp vương vương nắng

Như bướm vờn theo nhịp võng đưa.

Pháo giặc dưới tàu vẫn bắn lên

Trời âm vẩn đục tiếng bom rền.

Máy bay giặc rú như bầy thú

Em chợt tỉnh rồi lại ngủ yên.

Ôi tuyệt vời thay giấc ngủ hiền

Của người em gái đẹp như tiên.

Dễ thương như nước hàn giang ấy

Mà tựa triều dâng giữa trận tiền.

Ai biết chiều qua trong lửa đạn

Em là cô gái rất hiên ngang.

Dẫn tổ ba người băng lửa thép

Đánh bật vòng vây mấy tiểu đoàn.

Giờ nằm trong võng ngủ ngon

Gió thơm mái tóc nắng chen mặt hồng.

Hỡi con chim nhỏ trên đồng

Hót lên cho đẹp giấc nồng em tôi.

Đêm nay vào lúc trăng tà

Nàng tiên dũng sĩ lại ra trận rồi.

Gió trưa ru nhè nhẹ

Trên miệng em mỉm cười.

Em đang mơ gì thế?

Mùa xuân về trên môi.

Bài thơ nhẹ nhàng, thanh thót êm ái như giấc ngủ của nàng tiên dũng sĩ sau khói bom. Sự hồn nhiền đó đã bị chiến tranh lấy đi không còn dấu vết. Đọc bài trên và đọc lại bài “Hai lần làm mẹ” của Trầm Hương, người đọc hình như… cắn vào môi mình rướm máu:

Con trở về sau cuộc chiến

Không chàng trai nào đưa tiễn.

Không còn nửa lời thề non hẹn biển

Mẹ là người duy nhất đón đưa con.

Ừ thì con về với mẹ

Ngôi nhà ta ba năm rồi đơn lẻ…

Mẹ hái hoa bưởi về gội tóc cho con đây.

Ôi mái tóc xanh dài dưới bàn tay nhăn của mẹ

Vòm ngực con vẫn còn căng tràn sức trẻ

Mẹ run lên khi chạm vào đôi chân ngà ngọc của con

Gởi lại chiến trường!

Sự im lặng còn đau đớn hơn ngàn tiếng nấc

Con ơi, làm sao mẹ quen được nỗi mất mác này.

Nỗi đau nhân loại là đấy. Tàn phế còn đau khổ hơn ăn phát đạn vào đầu. Còn bao nhiêu cô gái, bao nhiêu người mẹ với cơn đau như muối xát lòng trên đất quê hương , trên thế giới? Những con người thức tỉnh trước mặt trời khi gặp cách mạng rồi đau thương, gian khổ và mơ ước diễn ra từng phút, từng giây trong cuộc chiến như thế nào?

b. Hiện thực tình cảm trong chiến tranh:

Giá trị hư cấu của thơ ca bóng bẫy, buốt lòng hơn tiểu thuyết. Thơ ca trau chuốt từ ngữ, hình tượng, ngữ nghĩa. Tự sự chuyên xây dựng hình tượng nhân vật có gút thắt và gỡ. Thơ ca sâu lắng. Tự sự dàn trãi. Người đọc cũng phải mở lòng mới thông cảm về những hạn chế do thời đại, lịch sử chi phối văn học. Ngay cả ”anh hùng” cũng phải được chờ thánh chỉ tấn phong. Đời thật có Đảng. Thơ văn lấy Đảng làm đầu. Chế Lan Viên phải giã từ bóng ma Chiêm để chạy về với Đảng (người mà Th gọi mẹ hiền, mẹ ghẻ):

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.

Ẩn dụ… như thật. “Đói lòng ăn một quả sim” cũng no. Đói gặp sữa là tuyệt vời. Nhưng “chiếc nôi ngừng” cho em đang ngủ đưa đẩy làm gì cho nó hết hồn khóc thét lên? Thơ ca thời chiến “nịnh nọt” dễ thương và quá cao cấp!

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng có Đảng nên mọi tình cảm khác ra ngoài tình cảm cách mạng đều gát lại. Th cũng đặt Đảng và lý tưởng lên hàng đầu trong quá trình công tác. Thạc nhớ người yêu nhưng cũng chỉ hẹn đất nước thanh bình. Xuân Diệu cả một đời không biết có bao nhiêu mảnh tình rách vác vai mà cũng gào kêu thống thiết:

Làm sao sống được mà không yêu

Không nhớ không thương một kẻ nào?

Luật pháp có kẽ hở. Đường ống xăng dầu, nước, ga vẫn có chỗ rò rỉ. Đảng cũng có lỗ hổng ở trong nguyên tắc. Th đã nhìn ra: ”Đảng không nói rằng trái tim cộng sản chỉ biết có lý trí, biết công việc mà vẫn phải có yêu thương, hy vọng, khao khát”. Thế là có mảng tình yêu rơi xuống cỏ hôm nào! Tố Hữu là đại diện của “mặt trời chân lý chói qua tim” trong ”Từ ấy” lẫn quẩn hoài, cuối cùng cũng… lén thả được cái câu: “Anh hôn em, hai người đồng chí”. Hôn như … đồng chí thì ngon lành gì! Th trong “Nhật ký Đ.T.T” có tình đồng đội gắn bó. Thôi Hữu trong “Lên Cấm Sơn” với tình đồng đội tan nát:

Cuộc đời gió bụi pha xương máu

Đói rét bao lần xé thịt da

Tặng những anh tôi từng rỉ máu

Đem thân xơ xác giữ sơn hà.

Những năm tháng yêu thương, đói khổ, trầy trụa như vậy mà thơ ra câu nào chết hồn người câu đấy, còn bây giờ, thơ thời buổi xe con, nhà lầu, điện thoại di động… đã có hướng đi về đâu cho đời thôi rỉ máu, cho người hết u sầu?

Thôi Hữu cùng Chính Hữu với Hồng Nguyên, Quang Dũng… như “một lũ người tứ xứ, gặp nhau hồi chưa biết chữ”. Đánh đấm xong xuôi, buồn tình cái chi mà làm người anh hùng thời hòa bình hưởng phước không làm, bày đặt đi làm… liệt sĩ! Bài thơ về tình đồng chí được coi mẫu mực nhất, hay nhất vẫn là bài “Tình đồng chí” của Chính Hữu:

Áo anh rách vai

Quần tôi có hai miếng vá.

Miệng cười buốt giá chân không giầy

Thương nhau tay nắm bàn tay.

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Tình đồng chí ấy thiệt như của những… “Hồng Thất cái bang”. Áo nhà binh không chịu khoát vào ”cho xanh màu lá, cho dữ oai hùm” như Quang Dũng mà cả đôi dép Bác Hồ cũng… quẳng ở nơi đâu? Mang một chữ ”nghèo”, chữ ”ngông” khí phách vậy mà tâm hồn thật thà quá. Có ai nhẫn tâm đi bắn ánh trăng ước vọng hòa bình. Một hòa bình bằng súng đạn cũng đâu là vĩnh cữu vì đằng sau đó là sự căm thù từ phía bên kia kẻ trúng một phát đạn vào đầu!

Hình ảnh người lính với sự nhận thức căm thù trong đánh giặc là chủ yếu nhưng bên cạnh đó, ta thấy thấp thoáng những con người đi vào cuộc chiến như một sự đẩy đưa của lịch sử. Bản chất hiền lương thấm cả vào lằn đạn mà họ không cách nào buông súng như trong ”Chiến tranh và tôi” của Nguyễn Bắc Sơn:

Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu

Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo.

Mang trong đầu ý nghĩ trong veo

Xem chiến cuộc như tai trời ách nước.

Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước

Vì căn phần ngươi xuôi khiến đó thôi.

Ta nghĩ Th nên đọc những lời chua chát, chân thật này để yên lòng nhắm mắt. Th chỉ là người con gái ”bạc phước” mà ”ta bắn trúng” như muôn ngàn cô gái phận bạc mà thôi. Giữa họ và Th nào có hận thù gì? Họ lúc nào cũng là những người mong muốn có cuộc sống thanh bình, tai nghe chim ca trong nắng, mắt ngắm sóng bình minh như Thạc, như Th mà Trần Trung Đạo với ”Giấc mơ nhỏ của tôi” chỉ mơ làm ”con thoi nhỏ”:

Để tôi nối hai bờ sông Bến Hải

Nối lòng người vời vợi cách xa nhau.

Một tấm lòng nhân bản biết bao nhiêu! Những người viết lên những lời thơ bằng máu không bao giờ có thể là kẻ bỏ quê hương. Người lính miền Nam xuất hiện chưa rõ ràng trên sách vở nhưng họ mở đầu cũng chỉ là những học sinh, cũng vì nhiệm vụ mà khoát áo chiến binh, ra chiến trường không quên mang theo lòng nhân ái mà Trần Hoài Thu đã ghi lại trong ”Ta, lính miền Nam”:

Trong túi ta một gói thuốc chuồn

Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm.

Để thấy miền Nam lính hiền ghê gớm.

Cung cách đối xử cao cả (”mời”) giữa người với người dù kẻ đó là tù binh (”bắt”) trên thơ ca thôi cũng đủ cho ta thấy sự khác biệt giữa hai người lính hai miền rõ như ban ngày. Một bên hiền lành, thân thiện. Một bên thù bốc lửa và đầy sát khí ngút trời trong ”Bắn đi” của Tố Hữu:

Đại bác ta sau rèm tre ngoảnh cổ

Trông xuống khoanh đồi nọ

Ngon như một dĩa thịt bò tươi

Ở kia chúng nó đang cười

Cười đi nhé các con ơi rồi chết.

Sự xuất hiện của ”chằn tinh” ăn thịt người ngon như ”thịt bò tươi” trong năm câu thơ trên khiến người viết bài này như bị điểm huyệt nhân tâm, bình thơ hết nổi! Ta có đi tìm mỏi mắt cũng chưa thấy một lời văn trong thể tự sự, lời thơ trong thi ca thời kháng chiến có những câu đầy lòng Thạch Sanh như bài viết về lính miền Nam. Họ giống nhau ở bản chất hiền lương nhưng ra chiến trường thì tư tưởng nào, người lính nấy. Buồn thay cảnh đất nước chia hai, tính cách con người cũng phân đôi theo đất nước!

Th hiểu đất nước là Đảng, là Bác Hồ, là lý tưởng cách mạng là những tình cảm đồng đội và riêng tư. “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm là của:

Những người đã khuất

Những ai bây giờ và con cháu mai sau

… Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn tay trong nỗi nhớ thầm.

Người viết “Mặt đường khát vọng”, viết “Đất nước” của anh, của em với nỗi nhớ thầm sâu sắc qua chiếc khăn tay như thế bây giờ ở trong tổ ấm “Bộ chính trị” có nhớ lại những năm tháng sau 1954, 1975, ngọn lửa “Tần Thủy Hoàng” đã thiêu trụi hết những gì là “tinh hoa” đất nước? Người viết xin được viết tiếp dòng cuối của bài ”Đất nước” mà NKĐ hình như đã quên:

Đất là những bản tình ca nằm thở dài trong củi sắt

Nước là mùa xuân trong ánh mắt quá mỏi mòn.

Đất nước một đời khắc khoải Mẹ trông con

Đất nước mòn chân chiến tranh qua, đau thắt!

Đất nước phân minh: Chuyện tình nào quên đi, chuyện đời cần nhắc nhở…

Một chữ “thương người” nằm thoi thóp giữa trang thơ.

Trong chiến tranh, thơ như “xuất thần”, người ta viết như một tiên tri về tương lai:

Sống trong cát chết vùi trong cát

Những trái tim như ngọc sáng ngời.

Tố Hữu viết về “Mẹ Tơm”, người mẹ cơ khổ đã “dành cơm” cho cách mạng ngày nào như một sự hy sinh bất biến. Những hạt ngọc ấy bây giờ ra sao? Ngọc thật người ta so giá. Ngọc đá người ta nâng niu. Ngọc người tia sáng cũng buồn thiu! Bản thân Tố Hữu sống chết cũng sẽ vùi trong cát nhưng trái tim kia có hóa thành đám mây trắng, thành hạt ngọc long lanh, sáng ngời hay không còn tùy vào bao nhiêu năm “tu luyện công đức” của mình. Lịch sử sẽ là người sàn lọc lại công sức những gì người đã sống cống hiến cho đất nước nở hoa hay héo úa!

Những câu ”tiên tri” của một thời đại anh hùng nhan nhản trong thơ Chế Lan Viên ca ngợi thành tựu cách mạng. Điều mà nhân vật liệt sĩ Đặng Thùy Trâm suốt đời ước mong và ôm ấp:

Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt

Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc.

Những kẻ quê mùa đã thành trí thức

Tăm tối cần lao nay hóa anh hùng

Quả thật, cây đắng sinh trái ngọt. Kẻ thắng trận đã xúm vào hái trái ngọt, lặt cả trái xanh và quật cả gốc cành như Tôn Ngộ Không quật trốc lốc cây nhân sâm ngàn năm của Chơn nhơn đạo trưởng, mà quên mất câu:

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Không tao đổ máu cho mày hái đây?

Vậy là “trở mặt nhau” bởi phân chia đâu thể đồng đều như thời “áo rách vai, quần hai miếng vá, đắp chung chăn, nắm chặt tay” như thời đánh giặc?

Người cay đắng đã đâu nhận ”phần hạnh phúc” vậy là “đấu tố” lẫn nhau. Bản Trường ca thành “bản cáo trạng” dài ngút ngắt tung bay. Cay đắng đó thôi! Thêm những kẻ “quê mùa” nhảy lên trí thức với sự học thì ít mà công… xít cho thật nhiều để kiếm mảnh bằng củng cố chức vị. “Tăm tối cần lao hóa anh hùng” như cả một rừng người anh hùng. Vậy mà những “anh hùng trong tăm tối” cần lao ấy mãi mãi “cần” mà “lao”cho hết kiếp! Té ra, anh hùng chưa có mề đay chỉ có giá trị trên miệng. Hy sinh như nữ bác sĩ quân y, chiến sĩ giải phóng quân Đặng Thùy Trâm mà chỉ “huân chương chiến công hạng nhì” thì không biết “trạng nguyên” liệt sĩ phải là cỡ loại nào ngã xuống? Chết mất cái mạng mà cũng chờ phân hạng mới có thể đi đầu thai thì làm sao “xóa bỏ giai cấp” như Th mong?

Tầng lớp xuất thân của nhân vật Th là ”tiểu tư sản”, của Thạc là ”tiểu chủ” còn quá nhiều may mắn so với con đường vào cách mạng của chị Tư Hậu (Một truyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái), chị bị ô nhục, chồng hy sinh, con bị giặc bắt nhưng Th và Thà không may mắn bằng số phận của Mẫn (Mẫn và tôi – Phan Tứ ). Mẫn mười bảy tuổi là Đảng viên, hai mươi tuổi làm Bí thư chi bộ. Trong khi hơn cái tuổi đó, Th khao khát Đảng đến lả người. Thạc thì ”mỗi lần khai lý lịch mình lại buồn”. Th với một chức “trưởng trạm y tế” cũng bị soi mói, ghen tị đến gần đứt hơi, Th mới được “mẹ hiền” cho vào bú miếng sữa cọc còi! Dẫu xuất thân và gia nhập Đảng, cách mạng khác nhau nhưng họ đều giống nhau căm thù dữ tợn và yêu thương mãnh liệt vì Đảng đâu nói “cấm” tình yêu. Tình yêu trong tác phẩm văn học giống như cơn mưa mùa hạ lại trở về ruộng đồng, cỏ non sau tháng ngày khô hạn vì chiến tranh, vì tội ác. Nhân vật có thật và hư cấu như trộn lẫn vào nhau, bổ sung cho nhau để sống và chiến đấu theo lý tưởng cách mạng trong tác phẩm viết về đề tài chiến tranh hay đến… bốc khói!

Ta thấy nào KanLịch trong ”KanLịch” của Hồ Phương; Kinh, Lữ trong “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu hay những nhân vật trong “Những người mở đường” của Vũ Hữu Ái hoặc trong “Con đường mòn ấy” của Đào Vũ về những tháng ngày vượt Trường Sơn:

Trường Sơn Đông nắng, Tây mưa

Ai chưa đến đó như chưa rõ mình.

Hình ảnh con người chiến sĩ giải phóng quân vượt Trường Sơn – đường mòn Hồ Chí Minh- để “tiến về Sài Gòn, ta quét sạch giặc thù” có giá trị “cháu chắt” của thế giới kỳ quan “Vạn lý trường thành” của Trung Quốc. Đó là một “công trình lịch sử”. Đó là “nhân chứng chiến tranh”. Đó là những giọt nước mắt động trên vành môi của những hồn ma bóng quế mà Quang Dũng nhìn ra trong “Tây tiến”:

Rải rác biên cương mồ viễn sứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Đây là những câu một thời vang bóng biến thành cùm số tám cho tác giả . Vượt Trường Sơn vào Nam, ta lại gặp những người phụ nữ mang tám chữ vàng thắt quanh mình che đạn: “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Chỉ một từ “anh hùng” thôi cũng “trầy da tróc vẩy” nhưng người ta chiến đấu với tình yêu đất nước là chủ yếu chứ nào phải vì những chữ vàng đó và nhiều khi khẩu hiệu làm cho mục đích chân chính kia giảm đi giá trị đáng có của một tấm lòng hy sinh. Đó là những hy sinh của chị Sứ (Hòn Đất – Anh Đức) tiếp nối những trang anh hùng ca một thời Hà Nội mà Th đã xiết bao nhớ thương. Đó là những con người sống chết bảo vệ thủ đô ngàn năm văn vật (Sống mãi với thủ đô – Nguyễn Huy Tưởng). Đó là một đoàn người đấu tranh mất liên lạc trong ”Trước giờ nổ súng” của Lê Khâm cũng như trong ”Nhật ký Đ.T.T ” cũng chỉ còn lại tổ ba người phụ nữ: Th, chị Lành và chị Xăng để cuối cùng thành… người anh hùng Đặng Thùy Trâm, không biết hai chị kia giờ thành cái gì rồi?

Đó là những trận chiến trên không bảy mươi hai ngày đêm chiến đấu chống B52 của Mỹ ở miền Bắc với ”Vùng trời ” của Hữu Mai; chủ nghĩa anh hùng cách mạng tiến về Chu Lai, vượt Trường Sơn về Trung Bộ được các tác giả ghi lại trong tác phẩm hết sức “thần thánh hóa” về những con người ra trận hy sinh. ”Trên bất cứ đất nước nào trên thế giới, điều đó được gọi là anh hùng” (Fred). Cũng chưa có đất nước nào như nước Việt nam mà người phụ nữ Việt Nam lại “tưng bừng” ra trận nhiều như vậy? Quan niệm của Fred là một quan niệm về người anh hùng hết rộng mở và đầy tính nhân bản có mở mắt cho ai?

Đọc lịch sử Trug Quốc với “Tam quốc chí diễn nghĩa” hay ”Thủy hử” của La Quán Trung, quan niệm cởi mở về người anh hùng “da ngựa bọc thây” đã có từ hàng nghìn năm trước. Đối với lịch sử Việt Nam qua tay Trần Trọng Kim đã coi những người ở các triều đại khác chế độ dám chết cho xã tắc là những bậc anh hùng như: Võ Tính, Ngô Tòng Châu, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân. Sau 1975, quan niệm anh hùng chưa được lịch sử công nhận cho phía bên VNCH. Một tầm nhìn chưa có tính chất quốc tế và cởi mở như Fred nên dưới cặp mắt của miền Bắc, anh hùng chỉ có trong lịch sử ĐCSVN. Những kẻ bên kia trận, sống chết gì cũng là “tội nhân thiên cổ”!

Tính cách căm thù, yêu thương nhìn một chiều của Th cũng đã nói lên được cả một quan niệm phiến diện thiếu nhân bản về gốc độ dân tộc, đã đào thêm “hố bom” về phía nạn nhân cuộc chiến. Nó còn là một nhát dao rạch thêm vào vết thương thù hận những người anh em cùng ăn hạt gạo quê hương, cùng uống dòng nước cội nguồn mà lại có những niềm riêng một đời dấu kín!

”Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ” của Tô Hoài mà Th đưa vào nhật ký hay Paven, Actơ… của Nicolai cũng chìm vào biển lòng quên lãng. Người ta không hứng thú để hướng về lý tưởng cách mạng (đổi mới) bị tiếm dụng làm ”quà” riêng chỉ một chế độ, một thời đại nữa. Người ta xông xáo vào hiện thực, tìm ra những hỏng hóc mà họ không có quyền lực dù dư khả năng may vá. ”Bến không chồng” của Dương Hương lênh đênh còn “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh tồn tại ước mơ hạnh phúc ngậm ngùi nhớ lại cũng bị chiến tranh ủi đến láng bóng! Những bà Bầm, bà Bủ của Tố Hữu hay “Bà mẹ đào hầm” của Bùi Minh Quốc ”từ lúc tóc còn xanh, nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc”, đã bị sập hầm do chính mình đào ra để tìm “con đường sáng nhất” từ nơi “hầm tối” để chứng minh cho một sức mạnh Việt Nam vĩ đại!?

Hoàng Cầm với “Bên kia sông Đuống” châm ngọn lửa nhưng lửa ”leo lét” quá:

Đêm buông xuống dòng sông Đuống

Con là ai? Con ở đâu về.

…Lửa đèn leo lét soi tình mẹ

Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng

Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể

Những chuyện muôn đời không nói năng.

Lịch sử sẽ nói dùm họ chuyện mà họ không bao giờ được nói. Những “anh hùng cách mạng” ra đi với ”Giấc mơ Nguyễn Huệ”, khi trở về như một nấm mồ ma trong ”Nhà tôi” của Yên Thao:

Chắc tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ

Làng tôi đấy bên trại thù quạnh quẽ

Trông im lìm như một nấm mồ ma

Có còn không? Em hỡi, mẹ tôi già?

Những người thân yêu khóc buổi chia xa …

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng bừng lên trong “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân với hình tượng độc đáo: “máu anh phun theo với lửa đạn cầu vòng”. Nếu “Vết chân tròn trên cát” của Trần Tiến đã ”để lại một bài ca trên cát trắng bao la” thì “Dáng đứng Việt Nam” đã tạc vào thế kỷ. Cái chết như báo trước và đã thành bất tử trong nước mắt của sự đổ vỡ một khát khao hạnh phúc – chủ đề chính của con ngưòi trên từng cây số.

Trong ”Mãi mãi tuổi hai mươi”, Thạc đã thích bài hát “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” của Hoàng Hiệp (thơ Phạm Tiến Duật) và hay chìm vào câu hỏi của Dương Hương Ly về ”Hạnh phúc là gì?” mà ”nghĩ hoài nghĩ mãi chưa ra” bằng sự rạo rực tình yêu của mình và Như Anh thì trong ”Nhật ký Đ.T.T”, Th đã nâng niu những câu thơ trích trong “Núi đôi” của Vũ Cao để nhớ về người yêu mình là M. như một tình yêu tang tóc:

Ai viết tên em thành liệt sĩ

Bên những hàng bia trắng giữa đồng.

Nhớ nhau anh gọi em: đồng chí

Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

Bài thơ ấy cũng như đã dành cho Th, cho những người con gái trong nhật ký là Hường là Liên và bao người con gái khác:

Em sống trung thành chết thủy chung

… Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khóc.

Núi vẫn đôi mà anh mất em

… Em mãi là hoa trên đỉnh núi

Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

Núi đôi” đã hòa vào “Quê hương” của Giang Nam mà khi sống, Khiêm cũng rất thích, thành tiếng nức nở, nghẹn ngào:

Giặc giết em rồi quăng mất xác

Vì em là du kích em ơi !

Đau xé lòng anh, chết nửa con người

… Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm

Có những lần trốn học bị đòn rơi

Nay yêu quê hương vì trong từng nấm đất

Có một phần xương thịt của em tôi!

Tiếng khóc của thi ca. Tiếng khóc của quê hương tình yêu và tuổi trẻ. Ai chắc rồi tiếng khóc này không có ngày lặp lại trên quê hương? Th có một bài thơ không tên năm 70. Thạc có một bài thơ về chiến tranh là ”Đêm trắng” năm 72:

Đêm trắng trong là đêm của em

Đèn thành phố và sao trời chật chội.

Đêm của anh xếp kín đầy bom đạn

Pháo sáng chập chờn trộn trạo với sao sa.

… Đêm của anh trong tầm bom rơi

Không thể ngủ nên đêm thành đêm trắng .

Đêm bão thép chất chứa nhiều sâu lắng

Bà mẹ sinh con trai trong mờ tối căn hầm.

Những ban đêm thành cột mốc tháng năm

Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng.

Đêm thao thức đón chờ ánh sáng

Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời.

Một chất thơ trí tuệ giữa hai đêm anh và đêm em. Một hiện thực và ước mơ khao khát. Xanh vàng gì cũng trắng bốc với thức thao. Chao, câu thơ liệt sĩ ”ấp ủ những mặt trời”. Một mặt trời thôi đủ rồi. Nhiều mặt trời quá, thiêu cháy ước mơ và ”quay chín” mộng tưởng. Người đi cho thỏa chí tang bồng, để mảnh tang lòng cho người còn ở lại. Phạm Tiến Duật đã viết:

Dân tộc ấy có gì kỳ lạ

Một nước bao nhiêu là đá vọng phu.

Nhưng nhà thơ kia có biết nước mình còn lại được mấy hòn đá vọng phu? Tượng Phật mấy ngàn năm ở Aphúhãn còn bị kéo sập huống hồ chi ba cái đá vọng phu! Nhật ký người chết bán được sao đá không được bán? Bảo Ninh ở đâu mà không cầm bút lên viết tiếp ”Nỗi buồn sau chiến tranh”? Nhà văn này chỉ còn biết nói: ”Có thể chúng ta sẽ có cuốn tiểu thuyết vĩ đại của ngày hôm nay hoặc có thể không. Còn nhà văn lớn của chúng ta có thể đang là đứa trẻ đánh giày ngoài đường ấy’‘. Có thể là chị bán hột vịt lộn, là em giũa móng tay?

Có những bài thơ dù viết cho một thời đại nhưng mất mát chung đã phát ra tiếng nghẹn ngào của dân tộc nên vượt thời gian, vượt thời đại để đi vào lòng người. Thơ ca một thời chống chiến tranh với chủ nghĩa anh hùng cách mạng là như vậy khi xét về phương diện những con người nhất là phụ nữ dám hy sinh ở tư thế đối đầu. Tất cả những con người như thế, không phân biệt thành phần, chế độ, thời đại, đất nước đều là những anh hùng. Nếu đem chính nghĩa và phi nghĩa luận anh hùng thì đâu có ai chịu nhận mình là “phi nghĩa”. Những con người phải chiến đấu cho một cuộc chiến phi nghĩa muốn khỏi ô danh chỉ còn một con đường: Tự sát! Có ai dám làm cái ”sĩ khả sát, bất khả nhục” này không? “Việc mình không thể làm được thì đừng ép người ta làm” và kẻ quay đầu chưa hẳn là kẻ phản bội còn người bên hông chưa chắc lòng đã trung thành!

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng sau chiến tranh đã trở thành những đóa hoa tàn. Mùa xuân vẫn về mỗi năm và người trong cuộc chiến, còn lại, cuối đầu nhặt cánh hoa tàn, phơi khô cất làm kỷ niệm có một thời như thế trong đời.

4. Những dòng riêng cho ĐTT:

Riêng Th, cô gái tiểu tư sản trí thức vô cùng may mắn được “chết đúng lúc” giữa độ tuổi mãi thanh xuân trong khi những hy sinh còn lạc loài hồn phách không nơi nương tựa trên khắp nẻo đường đất nước.

Những huân chương? Xin người đời cứ cất lấy làm kỷ niệm vì cuộc đời Th chỉ mong ước duy nhất là hòa bình và ước mơ hạnh phúc. Hạnh phúc về một mái ấm gia đình riêng tư đã vì cuộc chiến tranh mà vùi trong bom đạn thì hãy coi như bầu trời thương yêu này, thế giới này là ”mái ấm gia đình”, Th đã về yên nghĩ nghìn thu nơi mẹ đã ru Th những lời đầu tiên và vẫn còn ru cho đến suốt đời. Huế – Hà Nội một thời đã xa, nay đã về trong yêu thương.

Ta chìa bàn tay xa lạ từ bên kia đại dương cho Th nắm lấy như mong ước cuối cùng của Th trước phút đi xa: “Hãy đến với mình, nắm chặt bàn tay trong lúc cô đơn, truyền cho mình tình thương và sức mạnh để vượt qua những chặng đường gian khổ trước mắt”.

Người đời nhìn Th qua cuốn nhật ký bị cắt xén được xuất bản với con số kỷ lục thế kỷ mà ”khâm phục”. Ta nhìn vể chiều sâu cuốn nhật ký để thấy nỗi lòng và khát vọng của Th mà chia xẻ cùng Th “những nỗi niềm riêng một đời giấu kín”, có ”như rong, như rêu” thì Th cũng không đem mà “hoán vị” bằng tiền bạc phải không?

Khát khao được sống và được yêu làm trái tim nhân hậu của Th có lửa. Hãy biến ngọn lửa căm thù ấy thành ngọn hải đăng giữa lòng biển cả. Hãy chìa tay để nắm lấy những bàn tay cô đơn lạnh lẽo mà chuyển cho họ “hơi ấm tình thương”. Thành phố buồn không biết bạn hay thù, thành phố buồn là một cõi thiên thu mà ai cũng sẽ một lần viếng thăm và ở lại mãi mãi. Hãy nắm lấy bàn tay của những người bỏ mình trong lửa đạn, thiên tai cả những hồn ma, bóng quế không cửa không nhà. Họ chính là những người xứng đáng để được Th nắm tay vì bàn tay họ sinh ra không phải để nắm bạc tiền – thứ mà có nó, lương tâm con người trở thành tù nhân và lý trí đã bị dạt vào lãnh cung lạnh lẽo. “Đừng nguyền rủa bóng tối mà hãy thắp lên ánh sáng“. Đấy mới là cái đích của cuộc đời.

C. “NHẬT KÝ Đ.T.T’: HIỆN THỰC VÀ NGHI VẤN:

I. Hiện thực: Một thời kỳ chống thực dân Pháp kéo dài một trăm năm đã đi qua cuộc đời người con gái mang tên Đặng Thùy Trâm (Đ.T.T). Chế độ “chặt đầu, lột da” đó đã làm cho người dân Việt Nam đều muốn “ăn gan, cắn cổ”. Những phong trào chống pháp cũng chìm trong bể máu. Kẻ bán mạng làm tay sai cho Pháp cũng nhiều và người chống lại không ít. Đầu rơi, máu đổ, nhà tan cửa nát, cuộc sống lầm than. Nạn đói hai triệu người chết năm 1945 đã ra đời những tổ chức cách mạng mà “Việt Minh” khi bí mật, khi công khai, giỏi tuyên truyền đã thu hút lực lượng mọi thành phần Việt Nam tham gia cách mạng để đánh giặc giữ nước. Từ ”cách mạng” thời đó chỉ chung cho những tổ chức chống giặc chứ không chỉ dùng riêng cho chế độ như bây giờ.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp 1954, tinh thần cách mạng đỏ vẫn còn sôi sục. Mỹ thế chân Pháp tại Việt Nam không đúng lúc và là một sai lầm không biện minh. Hận thù của nhân dân miền Bắc gấp đôi khi Mỹ oanh tạc miền Bắc bằng B52 tối tân năm 1965 với ”chiến tranh đặc biệt” thời tổng thống Johnson. Nội bộ VNCH mười lần thi nhau đảo chánh khiến cho quân lực phân tâm đã dọn đường cho sự thất bại của ”chiến tranh cục bộ” ( 65-68) và bay trốc gốc “Việt Nam hóa chiến tranh” ( 69-73) của Nicxon.

Một thời chống Mỹ đã để lại xương tàn, hồn ma cô lẽ cho những con người kẹt giữa hai lằn đạn và chôn vùi biết bao giờ cô gái trong lứa tuổi thanh xuân. Sau ”Mãi mãi tuổi hai mươi”, nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc năm 2004 là cuốn “Nhật ký Đ.T.T” đang còn nhiều dấu hỏi đã dậy lên hiện tượng Đ.T.T với số phận kỳ lạ của cuốn nhật ký sau ba mươi lăm năm được lưu giữ tại trường Đại học ở Texas – Mỹ.

Một bệnh viện tại Đức Phổ – Quảng Ngãi mang tên bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Một ngôi mộ tại nghĩa trang Từ Liêm – Hà Nội có tên liệt sĩ Đặng Thùy Trâm “mãi mãi tuổi xuân”. Một cuốn nhật ký mang tên “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” của nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam năm 2005. Người chết được “danh”, người sống được “lợi”. Sự thật trần trụi về những mảnh đời chấp vá nên sách cũng vá, bất chấp dư luận này ra sao?

II. Một sự thật :

1. Sơ lược tiểu sử và những bài viết mở đầu: (Tổng hợp):

Đặng Thùy Trâm (Đ.T.T) sinh ngày 26-11-1942 tại Huế, lớn lên trong một gia đình trí thức ở Hà Nội. Bố là bác sĩ ngoại khoa Dương Ngọc Khuê. Mẹ là dược sĩ Doãn Ngọc Trâm. Em gái Đặng Phương Trâm, Đặng Hiền Trâm, Đặng Kim Trâm và em trai Đặng Ngọc Quang mất tại Liên xô năm hai mươi ba tuổi. Bản thân Đ.T.T là một bác sĩ khoa mắt. Đ.T.T đã xung phong vào chiến trường Quảng Ngãi tháng 11 năm 1966 và hy sinh ngày 22-6-1970 tại Ba Tơ, Đức Phổ – Quảng Ngãi ở tuổi hai mươi bảy. Ghi nhận: Tuổi Đảng hai năm, tuổi nghề ba năm. Tuyên thưởng: Huân chương chống Mỹ hạng nhì.

Sau đó không ai biết gì, viết gì, nói gì nữa cả mãi cho tới 1995 tức 25 năm sau có được ba người viết và đến 2004 có một người viết.

– Người thứ 1: Nguyên Ngọc với “Có một con đường mòn trên biển Đông” (nhà XB Hà Nội) ghi lại lời kể của Đại tá Nguyễn Đức Thắng – anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: “Bệnh xá Đức Phổ – Quảng Ngãi… có một cô bác sĩ người Hà Nội chỉ huy bệnh xá ấy, bám trụ đến gan lì… cho đến ngày chị hy sinh”.

– Người thứ 2: Vinh Thu với “Đi tìm Sulico” báo Tiền Phong số 14, 15,16 ngày 4-4-1995 ghi chép tản mạn về cuộc đời Th cho đến lúc hy sinh.

– Người thứ 3: Trầm Hương “Ai biết liệt sĩ Đặng thùy Trâm” báo PNTĐ số 51 ngày 22-29.12.2004. Tác giả là người miền Nam cảm kích bất tận về liệt sĩ, bác sĩ Trâm nên cố lưu lại Hà Nội tìm kiếm tông tích nhưng vô vọng nên viết bài kêu gọi mọi độc giả “ai biết xin nói dùm”.

– Người thứ 4: Trương Thị Kim Dung với bài “Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm mãi mãi tuổi thanh xuân”, báo PNTĐ năm 2004 , viết theo lời kể của Ngô Xuân Huy – người bạn Th năm xưa và là người “xung phong” đi bộ đội với quyết tâm trả thù cho Trâm.

Về cái chết của Đ.T.T, những bài viết ấy đều thống nhất ở chỗ: Gặp địch, chiến đấu và hy sinh nhưng chi tiết hy sinh khác nhau:

– Theo Vinh Thu: 4h15′ chỉ một người sống sót trong tốp cán bộ bốn người.

– Theo báo cáo tình báo quân sự tiểu đoàn 4, sư đoàn bộ binh số 21 Mỹ ở Đức Phổ trang 290 (Nhật ký Đ.T.T): Phát hiện bốn người tại vị trí BS 0305 bắn chết một người phụ nữ, những người còn lại chạy thoát theo đường mòn. Lấy một nhật ký.

– Theo nhật ký Th ghi lại thì chỉ còn Th và hai chị nữa bị lạc trong rừng. Nghĩa là chỉ tổ ba người phụ nữ mà thôi.

2. Lần theo dấu vết nhật ký:

* Qua lời kể: Tổng hợp từ các bài viết trên các web và báo chí trong, ngoài nước.

– Hai cuốn sổ ghi nhật ký của Đặng Thùy Trâm đều do anh Nguyễn Trung Hiếu (phiên dịch tiếng Anh – nguời Sài Gòn thuộc đơn vị tình báo quân sự số 635 của Mỹ) đưa cho Fred.

– Frederic Whitehurst (Fred) sĩ quan quân sự tình báo Mỹ tại Đức Phổ – Quảng Ngãi 1969-1971 (theo ”Nhật ký Đ.T.T” trang 20) nguời đã giữ hai cuốn nhật ký của ĐTT cùng với em là Robert Whitehurst.

– Truớc khi về nước 1973, Fred đã đưa nó cho một nguời bạn cùng đơn vị ở Đức Phổ, vợ người Hà Nội và nhờ dịch ra tiếng Anh. Mấy chục năm sau, bạn Fred là anh Ted Englemann đã cùng cô vợ đó định cư ở California gọi Fred trao trả hai cuốn nhật ký vài năm gần đây. Fred đã dùng máy “quét” chụp lại rồi giao cho Robert dịch (không rõ bản dịch tiếng Việt hay tiếng Anh, Robert có học tiếng Việt không? Có ai trợ giúp dịch? Không biết bản dịch đó giờ ở đâu?).

– Trong một cuộc thuyết trình ở Đại Học Texas, Fred đã tặng chúng cho “phòng lưu giữ các tài liệu về chiến tranh Việt Nam” .

– Nguời đã nhìn thấy hai cuốn sổ đó là Bảo Ninh, tác giả cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” tại Đại Học Texas, Mỹ.

– Sau đó Fred đã gởi CD copy nhật ký về cho gia đình Đặng Thùy Trâm vào đúng dịp 30.4.2005. (Theo “Di sản ĐTT” của Frederic Whitehurst).

III. “Nhật ký Đ.T.T” với con sốt từ hai phía : Hâm mộ và nghi vấn.

Nhật ký Đ.T.T” theo sau cuốn “nhật ký” của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc “Mãi mãi tuổi hai mươi” gây một bùng nổ về nhật ký. Đây là cuốn nhật ký bán chạy nhất trong bốn mươi năm văn nghệ theo Vương Trí Nhàn – nguời bạn – nguời biên tập cùng Đặng Kim Trâm, em gái Thùy Trâm.

Nổi tiếng và tai tiếng đã thành “mốt” cho bất cứ một nhân vật, tác phẩm nào.

1. Xét về nội dung cơ bản:

”Nhật ký Đ.T.T” là một cuốn sách có giá trị tư liệu về một cuộc chiến tranh chống Mỹ tại một huyện Đức Phổ – Quảng Ngãi. Nhân vật là một nữ bác sĩ Hà Nội xung phong vào Nam theo tiếng gọi “Tình yêu và Tổ quốc” . Trong nhật ký, Th đã bày tỏ nỗi lòng của mình về lý tuởng cách mạng, về Đảng, Bác về chủ nghĩa anh hùng cách mạng cũng như những mặt tốt và xấu của con nguời, đồng chí, đồng nghiệp, thương binh ở huyện Đức Phổ và ngay trong trạm xá của Th. Nội dung chính cuốn nhật ký là uớc mơ hòa bình và khát vọng tình yêu nhân đạo (tuy chưa đạt đến tầm vóc “dân tộc” và tư tưởng “nhân bản” quốc tế).

Nhìn chung, nội dung những trang nhật ký của liệt sĩ thì quanh đi quẩn lại chỉ có bấy nhiêu. Sự bay bỗng của cuốn sách này chính là “số phận kỳ lạ” của nó. Nếu nhật ký của Nguyễn Văn Thạc sau ba mươi ba năm được trao trả lại từ người yêu cũ là Như Anh định cư ở Đức thì cuốn nhật ký của Đ.T.T có liên quan tới những người được coi là ”kẻ thù dân tộc Việt Nam” và người anh em bên kia vĩ tuyến 17 trong tư cách chỉ là những kẻ thua trận. Nhưng kẻ bị coi là “loài qủy dữ khát máu người” lại chính là những người có trái tim nhân đạo đã gìn giữ cuốn nhật ký suốt ba mươi lăm năm qua. Ly kỳ và huyền hoặc đã kích thích sự tò mò của người dân. Thương tâm và cảm động làm sụt sùi nguời đọc. Sự kiện chưa thống nhất đã gây những dư luận với nhiều nghi vấn về sự trung thực của một cuốn nhật ký mà tầm cỡ của nó đã vượt đại dương. Cho nên, một thao tác cẩn thận khi biên tập, một thái độ nghiêm túc khi ấn bản là điều cần làm.

Báo Thanh Niên đăng “Nhật ký Đ.T.T” đầu tiên. Nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam in sách “Nhật ký Đ.T.T” đầu tiên. Tính đến nay mới nửa năm mà bài viết ca ngợi đã coi như vuợt kỷ lục bỏ xa ”Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh và năm tập thơ Tố Hữu thời mới “ra mắt” độc giả. Một số người biết về Đ.T.T một thời im hơi lặng tiếng nay có dịp lên tiếng “nhận bạn bè”!?

a. Sơ lượt những bài khen tuyệt đối:

– Tuờng thuật của Nguyễn Hùng với “Cơn sốt nhật ký có lửa” (BBC vietnamese.com).

– Ngọc Tấn với “Đặng Thùy Trâm qua lời kể của nguời chị kết nghĩa” (vietnam.net).

– Tùng Lâm với “Cảm nhận từ lời phát biểu của Ngô lê hoàng Phương đọc hai cuốn nhật ký của ĐTT và N.V.Thạc” (vietnam.net).

– Vương Trí Nhàn với ”Lời giới thiệu Nhật ký Đặng Thùy Trâm” (talawas.org).

– Lê Thành Giai “Chuyện về ĐTT viết từ Mỹ” Đặng Ngọc Khoa giới thiệu (thanhnien.com).

– Uyên Ly với một loạt bài viết kể lại hành trình sang Mỹ tìm Nguyễn Trung Hiếu với tư cách là nữ phóng viên báo Tuổi trẻ (thanhnien.com).

– Cấp lãnh đạo nhà nước Việt Nam (cũ và mới Võ Nguyên Giáp, Phan Văn Khải) đã viết thư, phát biểu ca ngợi, nâng cấp cuốn sách “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” mang tầm vóc quốc tế. (thanhnien.com).

– Fred “Di sản Đặng Thùy Trâm” (talawas.org).

– Hoài Việt với ”Và em, Tuổi hai mươi: Tản mạn về cuốn ‘Nhật ký tuổi hai mươi”’. (Cuốn này là nhật ký của Nguyễn Văn Thạc không hiểu sao tác giả dùng để hầu như nói về Đặng Thùy Trâm?) (giaodiem.com).

– Nguyễn Đắc Xuân với ”Ngôi nhà thờ họ Đặng của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm ở Huế” (giaodiem.com).

Những nguời Mỹ luôn có thiện chí hòa bình và tấm lòng huớng thiện. Họ muốn làm một điều gì đó để xoa dịu một thời chiến tranh.Với họ, những kẻ hy sinh như Th là anh hùng. Họ kính nể Th cũng như kính nể những người khoát áo nhà binh của họ và cả thế giới. Họ khen không lầm lẫn.

Nguời Việt Nam không phải ai ai cũng “thấy nguời sang bắt quàng làm họ“. Một số đã nhìn ra có cái gì “lộm cộm” từ cuốn nhật ký được coi là ”có số phận kỳ lạ” vuợt hai lần đại dương này. ”Khen, chê đúng mực nói năng phải lời” nên họ cẩn thận với từng trang nhật ký khi được đọc. Bởi lẽ, nhật ký cần sự thật một trăm phần trăm. Nhật ký của một cô gái, của một liệt sĩ và bác sĩ có số phận bất hạnh, tuyệt đối cần phải được tôn trọng. Trên lập truờng “chân thật” để xét “tính chân thật” của một cuốn sách (thường lỗi sơ sót về tác giả, in ấn). Nhưng ở đây, tác giả tạm coi như tương đối với nội dung, ghi ra từng sự kiện, sự việc kể cả “trung thực” trong sai sót chính tả, câu văn. “Tính chân thật” của tác phẩm dạng nhật ký như “Nhật ký Đ.T.T” đã bị vi phạm, đã được một số người có lòng tự trọng, có sự nâng niu những dòng chữ được coi như một lời trối trăn của Th, phát hiện ra.

“Giấy không bọc đuợc lửa“, cây kim trong áo có ngày lòi ra nhưng nó lòi ra quá sớm. Sự trung thực bị xé vỡ từ phía những nguời biên tập: Đó là Vương Trí Nhàn; đó là Đặng Kim Trâm; đó là Nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam nơi cấp giấy phép. Một sự tùy tiện không thể cho qua. Một thái độ chưa coi trọng độc giả cần chấn chỉnh. Kẻ khóc mình ba mươi lăm năm truớc, nay khóc sách mình ba mươi lăm năm sau coi như được “chết hai lần thịt da nát tan”.

b. Dư luận:

Bắt đầu, trời đang quang đãng bỗng mây đen xuất hiện:

– Bùi Minh Quốc với “Thư ngỏ gởi các bạn trẻ Việt Nam và hai bạn Mỹ Fred, Robert”.

– Lê Nguyễn: “Mấy cảm nghĩ nhân đọc: ‘Thư ngỏ …”.

– Trần Trung Đạo: “Từ Thép đã tôi thế đấy đến Nhật ký Đặng Thùy Trâm, những uớc mơ bị phản bội”.

Chúng ta khoan xét nội dung. Chúng ta hãy coi trời kéo mây và bắt đầu mưa..

– Trận mưa bắt đầu bằng Phạm Hoàng Quân với “Biên soạn nhật ký?”. Tác giả phát hiện những khác biệt về di bút của Đ.T.T bản chụp của Fred so với bản in và phát hiện dòng nhật ký ở trang bìa không có in trong cuốn sách (dùng kính lúp soi).

– Mưa kèm gió bởi Nguyễn Ngọc Giao với “Nhật ký Đặng Thùy Trâm: So sánh nguyên tác và ấn bản”. Tác giả tiến lên một buớc: So sánh nguyên bản và bản đã phát hành để phát hiện “Nhật ký Đ.T.T” có bị xáo trộn, bị cắt bỏ, bị dán ráp cả chữ và hình.

Kết luận: Đòi hỏi “ấn bản tuyệt đối trung thành với nguyên tác”. Hai con mưa và mưa kèm gió này đến giờ này thật chỉ mới làm “mát mẻ” hội đồng in sách “Nhật ký Đ.T.T“. Kiểu “kiến đen” này cắn chả “nhằm nhò” gì nên biên tập… “phớt tỉnh ăng lê” vì theo Vương Trí Nhàn (đài BBC phỏng vấn – Theo Nguyễn Ngọc Giao) thì Đặng Kim Trâm đã khẳng định “dám chịu trách nhiệm và không sợ thách thức dư luận”. Có nghĩa là ”thích thì mua đọc chơi không thích thì thôi, tra hỏi lôi thôi gì!”. Đúng là một “anh hùng” trên chiến trận biên tập nhật ký nguời chết không sợ mưa gió bão táp hay dư luận búa rìu!

2. Sự thật Đ.T.T có mấy cuốn nhật ký?:

Ai cũng công nhận Th có thói quen viết nhật ký từ thời đi học. Hãy chịu khó đọc và bình tĩnh suy nghĩ từng câu chữ của Th sẽ đưa ta đi tìm Đ.T.T có mấy cuốn nhật ký? Th viết ngày 15/1/70 trang 216 (tức là cuốn một Đ.T.T đang ghi chép):

– “Trở lại Đồng Răm. Mình đã tạm biệt nơi đây ngày 28/4/69 khi mà tạm xá bị địch tập kích vào… Giặc đã cướp của mình hai quyển nhật ký. Đó là hai quyển cộng thêm quyển đang chép những dòng báo cáo mất này là ba quyển.

– Trang 290, báo cáo tình báo quân sự Mỹ ghi “Nguời bị bắn chết là một nữ giới… có một nhật ký ghi từ ngày 31/12/69 tới ngày 20/6/70”. Tức là bao gồm hai quyển mất? Chỉ số ghi lại cho ta thấy cuốn nhật ký này Mỹ lấy được sau khi Đ.T.T chết có 5 tháng 20 ngày. Đây là cuốn thứ tư (cũng chính là gần một nửa của ”Nhật ký Đ.T.T”).

– Từ lúc mất hai quyển nhật ký ngày 28/4/9 đến ngày 31/12/69 khoảng giữa thời gian này, dĩ nhiên Th đã lấy quyển sổ khác viết tiếp trang 29/4/69 (vì mất rồi còn đâu mà tiếp tục viết?).

Đây là cuốn thứ ba đã nói trên đầu phần c.

Nếu Fred không vi phạm sự “trung thực” thì Th là nguời ghi sai hoặc là nguời viết lại “hồi ký”. Ta đọc kỹ những câu sau của Đ.T.T “Tuy đã mất những trang sổ vô giá đó, nhưng còn một quyển quý hơn cả, đó là bộ óc của mình, nó sẽ ghi lại toàn bộ những điều nó đã tiếp thu đuợc trong cuộc sống”. Có thể cuộc thử nghiệm DNA như một số nguời nói chơi e rằng thành sự thật.

– Khẳng định: Th có tất cả ít nhất bốn cuốn nhật ký. Giả thuyết: Th đã viết nhật ký dạng hồi ký. Phủ định: Nguời Mỹ không thật trong truờng hợp này. (xem phần cuối ”Hồi ký” hay ”Nhật ký ?”)

Bây giờ xin điểm qua những “con mưa”, mưa gió và thành “bão”, điều không ai mong – đến với “Nhật ký Đ.T.T”.

3. Mức độ trung thực nhật ký và phục hồi nguyên bản:

a. Mức độ chính xác, trung thực của cuốn ”Nhật ký Đặng Thùy Trâm” :

Bản chép tay cuốn một của Đ.T.T như sau:

– Trang mở đầu: Bên phải chữ ký tên chính thức đầy đủ: Đặng Thùy Trâm với dấu gạch đít đậm. Bên trái song song là dòng chữ: ”Những ngày rực lửa vui, buồn đọng giữa tim ta”‘ với chữ ký tắt.

Chữ ký tắt và dòng chữ này (trang 2/123 trên mạng) đã được ban biên tập ”hô biến” mất tiêu để nhường chỗ cho câu nói của Hoàng Văn Thụ và ”thổi” bay sang trang bìa cho cuốn 1970.

– Trang 3/123 (trang trên mạng) nghĩa là trang bản tay chưa đánh ngày, bên phải là câu nói của N.A.Ostrotsky.

– Trang 4/123 có câu: ”Đời phải trải qua giông tố nhưng chớ cuối đầu trước giông tố”. Ban biên tập chắc muốn ”tiết kiệm” ngân sách cho nhà nước nên góp hai thành một trang.

– Trang 5/123 mở đầu ngày 8.4.1968 (Tức bắt đầu trang 1 của nhật ký chép tay với số thứ tự được Đ.T.T đánh vào giữa trang).

– Toàn bộ bản chụp chính được lót trên một trang nhật ký khác lòi ra bên tay phải đến trang 6 và 7 của nhật ký thì mất. Sau đó xuất hiện vài trang kế tiếp.

– Trang 6 bản tay rất rõ ràng, mắt lé cũng đọc ra hàng số: 15.4.68 nhưng không hiểu sao sách in trang 37 tới chữ số đó chỉ ghi: ”….68 (10)” chú thích “con số mờ không đọc được” làm y như biên tập thật thà từng câu, từng số. Câu bị ”ăn thịt” trong trang này là: ”Mẹ San đã đồng ý cho người con duy nhất của bà đi bộ đội ”. Chắc tại ghét bà mẹ gì ác thế, có đứa con một mà cũng tống ra trận nên biên tập cắt!?

– Trang 8 bản chép tay xuất hiện trang được dùng ”lót” lại cũng là trang có ghi ngày 15.4.68 nằm bên trái liên tục đến những trang sau.

– Trang 14 ngày 1.5.68 tức trang 44 của sách in có chữ tắt ”KN” mà biên tập chú thích ”Không đọc rõ”. Lẽ ra, phải ghi là ”không hiểu ý nghĩa chữ viết tắt này” đúng hơn. Đọc nguyên câu ai không hiểu đó là viết tắt chữ ”Kỷ Niệm”. Câu hát bị bắt ”câm cái mồm” trong đoạn này của sách in là: ”Xuống đường xuống đường đập tan bao xích xiềng”.

– Trang tiếp theo có vẽ hình một cành cây có mấy con chim đậu trên đó màu đen vì in đen. Chắc tại vì đó là loại chim ”hắc điểu” nên ban biên tập ”cho mày đi chỗ khác chơi”!

– Ngày 13.5.68 của bản chép tay thành ngày 12.5.68 trang 46 sách in. Chắc con số 13 sui xẻo nên biên tập “cải ngày”!

– Ngày 28.6.68 nguyên bản: ”Không! M.ơi, hãy đi đi, đừng gieo đau buồn lên con tim rớm máu Th. nữa nếu qủa thực giữa chúng ta không thể nào có một hạnh phúc vĩnh viễn dù cả hai chúng ta còn sống sau cuộc chiến tranh này”. Biên tập ngứa mắt, cắt quách liên từ ”nếu qủa thực” biến cái câu ”có điều kiện” trên thành câu ”không điều kiện, điều đình” gì cả, phát một dứt khoát cho xong: ”Giữa chúng ta không thể có hạnh phúc vĩnh viễn …”. Các nhà ngôn ngữ học cũng ”thất kinh” khi có cao thủ sửa câu đang tốt tươi thì quẳng mẹ cái ý chính của tác giả để lấy ý mình cho chắc ăn!!!

– Trang 41 chép tay: ”Cho nên được tham gia vào cuộc CMMN là một vinh dự lớn đối với mình”. Câu này bị cắt trong sách in trang 65 chắc biên tập không muốn mất lòng độc giả MN đây.

– Trang 79 chép tay: ”Những hoạt động xã hội ngày mở rộng đối với mình. Đại hội phụ nữ Tỉnh có mời dự nhưng mình không có điều kiện tham gia. Trong cách bố trí sắp xếp kể ra cũng có nhiều điều chưa hợp lý. Một lần nữa mình hiểu thêm về lòng ghen tỵ của người đời. Vẫn còn có những người không vui khi thấy được đ/c mình tiến lên. Những giây phút lịch sử trong tình chị em, trong đời CM. Hãy nhớ trọn đời nghe em!”. Câu này bị cắt vì ai biểu …”dám nói xấu người đời”!

– 11.11.68 ”Tại sao mình cảm thấy mình buồn da diết khi mọi người lên đường. Không thể nói được rõ vì sao cả. Thực tình mình rất tiếc là không dự những cuộc hội nghị mà nếu có chắc mình sẽ được nghe và thấy nhiều điều đáng quý. Có lợi cho sự tiến bộ của mình. Còn vì sao nữa ư? Muốn phân tích tình cảm cho thực rõ ràng mà cuối cùng cũng chỉ kết luận được rằng: có một nỗi buồn da diết khi chia tay. Có một nỗi nhớ mênh mông khi xa cách và 1 sự lo lắng khắc khoải trong lòng.

Cùng những ngày này năm ngoái khi rời Phổ Hiệp ra đi mình ngạc nhiên hỏi lại mình rằng: Tại sao chỉ là tình cảm chị em mà con tim mình lại rung động một cách sâu sa đến vậy. Bây giờ mình lại một lần nữa lập lại câu hỏi đó. Câu trả lời thì chỉ có một điều là vì tình cảm căng mọng tràn trái tim mình cho nên dù chỉ là một tình cảm CM cũng đủ làm mình xao xuyến rung động.

Thùy ơi! cô gái giàu lòng yêu thương kia ơi! Đôi mắt cô đừng long lanh nước mắt, dù là nước mắt tập trung của rất nhiều nỗi buồn đọng về trong đó. Cô hãy cười như nụ cười luôn nở trên môi, đừng để ai đó tìm được sau nụ cười ấy 1 tiếng thở dài. 25 tuổi rồi, hãy vững vàng chín chắn với tuổi đó”.

Một mong mỏi học hỏi tiến bộ. Một câu hỏi thương yêu mà phải kiềm chế, cố giấu đi nỗi lòng buồn phiền và khao khát. Trời ơi! Những câu nội tâm đáng đồng tiền bát gạo như vậy ”mắc mớ chi ông cha nó” mà cắt ”bụp” trụm lụm?

– 16.11.68… ”Vì tình cảm bao la của người CM” chắc ”nói xạo” nên bị cắt đuôi.

– 26.11.68 và 26.11.69 bản chép tay có vẽ một cành lá 13 chiếc (lại con số 13 nên bị cắt là phải) đặt ngay trên ngày tháng như Đ.T.T tự mừng sinh nhật.

– 6.12.68 chép tay viết: ”Cả công tác Đ” sang sách in được sửa ”Công tác điều trị” (Thật ra, điều trị cái gì đâu? Đó là “Công tác Đảng”, “Công tác Đoàn” đó thôi.) Suy diễn của biên tập không hợp với nguyên văn trong nhật ký chép tay của Đ.T.T.

– 7.12.68 chép tay: ”Gặp Thường, rất lâu rồi mới được ngồi bên em nói chuyện cùng em như những ngày công tác dưới đồng bằng. 1năm qua trong xa cách, chị vui sướng thấy rằng mỗi chị em mình đều bước đi những bước trưởng thành. Và tình chị em cũng đã lớn lên dày dạn với thời gian. Vững vàng trước sóng gió. Hãy vun xới cho tình cảm ấy lớn lên và lớn mãi nghe em”.

Câu người ta viết chân thành như thế cũng cắt bỏ chắc biên tập ”không ưa” thằng em này của Đ.T.T cứ bị địch “bắt đi, bắt lại ” hoài chẳng đánh đấm được bao nhiêu!

– 1.1.69 Trang này, Th viết tiếp như thường chớ không tách riêng như sách in. Bản chép tay ghi đủ sáu câu thơ chúc tết của Hồ Chủ Tịch nhưng sách in ”to gan” cắt quách hai câu cuối dưới đây:

Tiến lên chiến sĩ đồng bào

Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn.

Bác Hồ “vô vàn kính yêu” của Th chỉ có sáu câu thơ mà cũng cắt bỏ. Sự ”bất kính” này không có ai ngợi khen. Trái lại, tôi cho là con người phải biết lẽ đời. Thơ của một “lãnh tụ vĩ đại” của miền Bắc hồi đó và cả hiện nay mà biên tập không biết quý thì còn quý cái gì của người chỉ mới là ”liệt sĩ”? Tào Tháo là một đại gian thần nhưng lại không ưa những kẻ quá ư nịnh nọt, hay kiếm cách ”lấy lòng” thời cuộc để hòng thu lợi nhuận bằng hành động phản phúc!

– Những từ XHCN bị cắt: 18.1.69: ”… của một người con gái trí thức lớn lên từ XHCN” thành ”của một người con gái trí thức” trong sách in. Ngày 14.2.69 bản tay viết: ”Nhớ lại những ngày sống trên đất XHCN” thành: ”trên đất miền Bắc” trong sách như muốn tránh né từ XHCN này? Nhưng nhật ký của người chết chớ có phải của ban biên tập đâu?

– 11.2.69 Bản chép tay: ”Riêng mình tâm tư nặng chĩu, bề bộn lạ lùng”, thành “riêng mình tâm tư bề bộn lạ lùng”. Sách in cắt từ ”nặng chĩu” trong câu có hai tính từ thì tính từ đắc giá nhất bị bỏ đi.

– Ngày 3.3.69 bị chuyển thành ngày 8.3.69 trong khi dòng kế tiếp là ngày 6.3.69 y như Đ.T.T viết ngày 8 trước ngày 6, thật như đùa. Có cái ngày mà cũng không nhìn ra thì nhìn ra sao nỗi nội tâm người khác mà sửa câu, sửa cú?

– 27.4.69 nguyên văn bị cắt ”30 triệu người VN và 3 ngàn triệu nhân dân thế giới” trang 145 sách in. Sự thật dân số được tính từ mốc năm 1969 chứ đâu phải bây giờ đâu mà sai số?

– 23.5.69 bản ghi tay: “Đêm mờ sao ở nhà chị Hạnh ‘không bao giờ tự cầm dao cứa đứt mạch máu trong cơ thể mình’. Không, thực tế thì có như vậy nhưng em thì không có”. Câu tự kiểm có lương tâm như vậy cũng bị quăng đi!

– 25.6.69 bản viết tay: “Trong cuộc chiến tranh này biết mấy gian lao chúc Th đứng vững trên cương vị của một người cộng sản” bị cắt trong sách in. Lời của người cộng sản Hoàng Văn Thụ thì để chễm chệ đầu trang sách còn lời của Đ.T.T cũng là người cộng sản thì biên tập cố tình ”lấy bớt”. Dù có rút bớt hay thêm từ cho phù hợp thời đại thì Đ.T.T vẫn là người của một chế độ cộng sản. Làm sao dùng phép màu xảo thuật của một ban biên tập nhỏ nhoi để thay đổi khí chất, tư tưởng con người? Thời đại nào con người đó. Đấy mới là chân lý!

– Những câu cắt tiếp ngày 16.7.69 “Ôi! những người dân VN anh hùng, có lẽ trên trái đất này không ai chịu nhiều khổ đau như mỗi người dân MN anh dũng này”; và ngày 6.8.69: “Ôi! Cuộc CM ở mảnh đất này mời kỳ lạ làm sao, đau thương tang tóc không đâu bằng và lạc quan sôi nổi cũng không đâu bằng”.

Phải! Th vô tình đã nói đúng. Miền Nam khổ đau không phải vì nghèo khổ, không phải vì Mỹ xuất hiện mà khổ đau vì miền Bắc sau 1973 đã tấn công vào người anh em, Th đã sống tới đó mà thấy đâu! Muốn ”lấy lòng” thời cuộc thì biên tập phải để nguyên cái câu này mới ”ăn chắc”.

b. Nguyên bản những đoạn quan trọng :

– Ngày 7.7.69. Th có giữ lá thư của Thuận kèm theo nhật ký mà sách in chưa công bố. Nay người viết xin được đăng nguyên văn lá thư này để khẳng địng tình “Chị-Em” của họ là có thật và hết sức thắm thiết kỳ lạ nhưng trong sáng:

”..7.7.69

Chị kính thương quá đổi của Em .

Trước giờ tạm biệt chị trên chiến trường công tác đầy mưa bom lửa đạn của địch không biết có được gặp lại chị nữa không ?

Chị ơi ! Em không tài nào bảo vệ được chị và cũng không tài nào giữ chị lại được đành phải để chị đi mà trong lòng như ai xát muối. Thương yêu chị tha thiết, mối tình xuất phát từ đáy lòng tình thương yêu chân thành vô hạn cao quý nhất đời của em. Em không bao giờ quên được những tiếng nói, những lá thư, những vật kỷ niệm và cử chỉ hành động của con người chị vô cùng kỳ diệu. Tình thương sắc son Em đã khắc sâu vào trái tim đến khi hơi thở cuối cùng mà em còn lý trí thì Em cũng còn nhớ tình thương đó và sẽ gọi tiếng chị Trâm rồi mới vĩnh biệt chị.

Chị rất kính thương ơi !

Không giấy mực nào mà tả cho hết được qua quá trình tình thương trìu mến của Em đối với chị được. Em sẽ hứa với chị rằng tình thương này không có một con người nào mà cắt đứt được và nó sẽ mãi mãi giữ trọn tình thương yêu tha thiết đến khi em đã hoàn thành nhiệm vụ. Chị ơi ! buồn quá đi ngày tạm biệt chị mà hình như ngày vĩnh biệt người cha đó vậy chị ơi. Buồn chừng nào thì thương yêu chị tha thiết chừng ấy. Em cầu nguyện những linh hồn đã hoàn thành vì nhiệm vụ giải phóng dân tộc sẽ phù hộ chị thương quá đổi của em.

Thương chị quá đi chị ơi .Chị đi rồi chị sẽ trở về với em nghe chị?. Tạm biệt chị. Em của chị. ( Ký tên) Đức Thuận.

12 giờ trưa 7.7.69

Chị rất kính thương ơi!

Tối nay chắc Em không có thì giờ để đưa chị xuống đường đi công tác cánh Bắc nhưng cũng phải tranh thủ để đưa chị đi một đoạn đường cho thỏa mãn tình thương. Nhưng cũng không thể nào thỏa mãn được đâu chị ơi. Thỏa mãn sao được mà khi tạm biệt Em chị không ngày gặp lại.

Chị đừng hy sinh nghe chị?

Chị sẽ về với ba má và các em sau khi hoà bình lập lại nghe chị?. Thương chị quá đi, thương chị mà lý trí em bị đảo lộn. Thôi chị đi Em về . Nhớ trở về nghe chị. Tạm biệt chị. Em Thuận.”

Thuận đã nói không có người nào cắt được tình thương giữa chị và em thì lá thư này coi như đi cùng số phận một nhật ký, một con người có hai con người không thể tách họ ra. Biên tập đã cắt thì người viết bài này xin trả lại những gì nguyên vẹn tình cảm của hai người thay một lời cảm kích.

– 5.11.69 bản tay: ”Ôi giặc Mỹ cuồng bạo tội ác của bay đã chất đầy như núi. Còn sống ngày nào tao thề sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để trả được mối thù vạn kiếp đó”. Đây là câu duy nhất viết thù Mỹ bị cắt. Có cắt đi chút này thì cũng không giảm lửa căm thù của Đ.T.T Người Mỹ họ coi Th là ”anh hùng” vì Th đã chiến đấu và chết như một kẻ bảo vệ quê hương chứ không bảo vệ Đảng thì dù Th có chửi cả dòng họ bốn mươi ba đời tổng thống Mỹ, họ cũng coi như ”câu chửi đáng mặt anh hùng”. Bởi vậy mà Trần Bình Trọng được kính nễ ngay trong tay kẻ thù. Kiểu Khanh mắng An Lộc Sơn phản phúc gây chiến tranh chết chóc mà được lưu danh sử xanh. Kẻ ”tri bỉ tri kỷ” xưa nay là thế.

– 26.7.69 trang 181 bản tay qua 172 sách in cắt: ”Con đường em đi những bước còn chập chững nhưng chông gai gian khổ đầy trước mắt. Chúc em đi những bước vững vàng”. Đ.T.T đã nói thầm với Nhiều đứa em trai của Thuận làm ”bực tai” ban biên tập, cắt quách!

– Trang 3.1.70 bị cắt nguyên với những câu tình cảm chảy nước mắt, chân thành, trong trắng như vậy mà ban biên tập ”cảm” không nổi chỉ cho là tình cảm vớ vẩn nên “xuống một đường đao” tàn bạo! Người viết xin trả về nguyên vẹn:

”Cũng con đường này ngày xưa chia tay em đưa mình lên mãi gần núi, bây giờ cũng vẫn là em, vẫn tình thương thiết tha nóng bỏng và nặng chuỗi lo âu nhưng em cũng chỉ có thể nói với chị bằng vài câu nói khô khan rồi chia tay chị. Trời tối đen như mực và mưa như trút nước, chị đi giữa đêm mưa không nhớ đường nên lạc mãi. Không trách em nhưng sao thấy tủi thân lạ lùng. Chị biết rằng trong cuộc họp ý nghĩ em đang lần thử từng bước. Chân chị run rẫy bước giữa con đường lầy lội, chị biết rằng em không thể tập trung mỗi khi nghe tiếng pháo nổ dọc theo đường chị đi nhưng… Buồn biết mấy hở em? Sao ta lại không thể cùng đi như những ngày xưa? Em ơi, dù trong hoàn cảnh nào cũng vậy hãy rèn rũa cho tình thương sáng ngời như ngọc quý. Đừng để một vết nhỏ nào trong đó nghe em. Chị em mình hãy dũng cảm trước mọi gian nan hãy bình tĩnh sáng suốt trong mọi tình huống quyết bảo vệ đến cùng tình thương thiêng liêng cho đến trọn đời.”

– 6.1.70 “Hãy giữ vững tinh thần của người cộng sản tinh thần trong suốt như pha lê, chói lọi muôn nghìn hào quang của lòng tin tưởng…”. Ca ngợi quá. Câu này làm sao mà “bán sách chạy”? Cắt bụp!

– 8.1.70. “Chỉnh huấn Đảng” Không hiểu sao biên tập lại đưa vào trang bị cắt ngày (3.1.70) sau đó mới tiếp “chỉnh huấn Đảng” 10.1.70 chỗ (…) Nguyên văn: “nhưng thực ra trong cuộc cách mạng này người ta lớn lên như Phù Đổng Thiên Vương và mình cũng đã lớn trong sự sức mạnh đó’‘. Sức mạnh Phù Đổng Thiên Vương mà cũng bị… chung đao thì trời hỡi biên tập như chưa học, chưa hiểu biết về Thần thoại Thánh Gióng?

– 13.1.70 bản tay ”quên đi những gì đã nuôi sống nó trong 12 năm nay” sách in sửa thành “trong10 năm nay”. Có lẽ giảm đi thời gian yêu đương chờ đợi của Đ.T.T tròn 10 năm cho dễ nhớ!? Đọc không rõ thì lấy ”kính lúp” mà soi như Hoàng Phùng Quân mới là người cẩn thận chứ? Lỡ hai con số cuối này nằm trong tờ vé số trúng độc đắc không biết biên tập có nhìn sai mà cạo trúng thành trật hay không?

– 19.1.70 Bản tay: “Cảm ơn anh người đồng chí thân thương, anh đã đến với em bằng tình thương chân thành ruột thịt, anh đã là chỗ dựa trong cuộc sống của em, cuộc đời thật phức tạp, không biết ở sao cho vừa lòng tất cả được, cũng như anh đã là lẽ dĩ nhiên em không bao giờ bi quan khi gặp những trở ngại trên bước đường đi lên của mình. Như bao lần em đã nói với anh cuộc sống là một bức tranh đủ màu sắc, lên cái màu chủ đạo là màu đỏ chiến thắng và màu xanh ước mơ vẫn có thêm màu đen tang tóc xám lạnh lùng nham hiểm. Dù sao em vẫn yêu cuộc sống, cuộc sống của những người cách mạng tha thiết tình thương và cháy bỏng niềm tin vào sức mạnh của mình. Anh Năm thân thương, anh tin em chứ? Tin đứa em gái của anh nghe anh”.

Đoạn này có hình tượng với ý nghĩa ba sắc màu (màu đỏ, màu xanh, màu đen) như một sự thật của cuộc đời vẫn bị “cắt đẹp”! Biên tập chắn chắn có ”tâm sự” hay bị ”dị ứng” trước những sắc màu nên cắt trụm lụm?

– 1.2.70 Bản tay: “Hãy rèn rũa phẩm chất của mình đừng để phải ân hận khi nhìn lại bước đường đã đi qua…” (Thùy T. ký tên) cũng bị vặt trụi trong sách in.

– 5.2.70 Bản tay: ”Những ngày sống bên anh, sung sướng cảm thấy tình anh em ngày thêm gắn bó trưởng thành. Em tin anh như tin chính bản thân em, niềm tin ấy giúp em đi lên, đạp bằng mọi chông gai trở lực vươn lên làm chủ cuộc sống của mình. Sung sướng biết bao khi trong bao gian khổ, luôn có anh dìu dắt, anh lo cho em từng li từng tí, anh dạy bảo em với tình một người anh trai với đứa em gái anh xây dựng cho em với trách nhiệm 1 bí thư huyện uỷ với một đồng chí mới làm công tác Đảng, anh săn sóc em với tình đồng đội cùng chung trong cuộc chiến đấu sinh tử này. Hãy giữ tròn mãi mãi ‘Trong ngần thiết tha’ nghe anh Năm! ”. Năm sáu gì cũng… đi chỗ khác chơi mày!

– 25.2.70 Trang 227 sách in thiếu một câu: ”Hãy cố gắng học tập và rèn luyện để làm 1 người cán bộ đáng tin cậy của Đảng” .

– 26.2.70 Trang 228 thiếu tiếp: “Tuy nhiên lúc em ra về mình cũng chỉ dặn em cảnh giác cố gắng tập trung cho cánh tay mau bình phục rồi nhìn em bằng đôi mắt mến thân. Thôi đi nghe em, chúc em mạnh khỏe mau trở về với đội ngũ chiến đấu”. Tội nghiệp cho Chín, cậu bé được chị Th ghi vào nhật ký mấy dòng cũng bị biên tập cho ra vì cứ thấy từ ”em” là… ngứa mắt!

– 27.2.70 Trang 228-229 cắt nguyên đoạn: ”Tất nhiên trong bước đường đi không ai không va vấp những khuyết điểm. Mình không hề sợ khuyết điểm, cái gì sai thì cố gắng thuyết phục, cái gì đúng cố gắng phát huy không theo đuôi quần chúng, không độc đoán quan điểm, không vì sợ mất lòng mà bỏ nguyên tắc. Trước khi làm việc gì phải cân nhắc kỹ lưỡng mình đang đứng trong vai trò của một diễn viên trên sân khấu, bao nhiêu đôi mắt của khán giả đang nhìn : mình làm được, điều đó là dĩ nhiên vì mình là diễn viên, họ chỉ khen khi nào mình thật xuất sắc (mà điều đó thì mình chưa thể làm được) nếu mình làm còn thiếu sót họ sẽ chê, chê nhiều: vậy mà cũng đòi làm diễn viên, dở quá! v.v và v.v….”.

Câu này chép lại coi như “gậy ông đập lưng ông” mà Th tặng lại “Ban biên tập” và những kẻ chịu trách nhiệm xuất bản cuốn “Nhật ký Đ.T.T” này không để độc giả trong mắt và không thương xót gì đến bộ xương khô của người đã chết!

”… Không! Các đồng chí ơi, tôi làm việc cũng chỉ vì sự nghiệp của CM – Đảng giao phó cho tôi những trách nhiệm quan trọng cũng chỉ vì Đảng muốn tận dụng hết khả năng sức lực của tôi để phục vụ cho Đảng nhiều nhất. Tôi vinh dự được Đảng tin cậy nhưng không vì vậy mà tôi kiêu căng. Tôi hiểu lắm chứ tuy rằng được học tập trang bị nhiền lý luận trong nhiều năm trên ghế nhà trường nhưng có nhà trường nào lớn bằng trường đại học thực tế đâu? Tôi mới vào đây 3 năm dĩ nhiên không thể bằng những đồng chí đã trải qua 10 năm, 20 năm trên chiến trường gian khổ? Cho nên hãy đến với tôi bằng tinh thần của những người cùng chung giọt máu đổ xuống cho đất nước tự do, bằng tình thương của những kẻ xa nhà lấy gia đình CM làm chỗ dựa duy nhất trong cuộc sống. Hãy chỉ bảo giúp đỡ tôi trở thành một đồng chí phục vụ đắc lực cho Đảng. Phần tôi, tôi tự biết phải làm gì, tự biết khả năng của mình và tự nhủ mình phải khiêm tốn học hỏi thật nhiều ở mọi người xung quanh”.

Một đoạn ”tiếng lòng” của một người CS thấy được cách sử dụng nhân tài của Đảng, thấy được ”lý thuyết” chỉ là ”bài học vỡ lòng” mà thực tế cuộc đời mới đích thực là ”bản điểm”. Một tiếng kêu gọi thân ái và lời khiêm tốn chân thành. Đoạn này bị ”phế” bỏ thì giống như biên tập đang tự phế bỏ võ công của mình!

– 9.3.70 rõ rành rành không biết sao biên tập lại sửa thành 8.3.70 và dẹp cái câu cuối: “người đồng chí của tôi ơi có hiểu vậy không?”.

– 24.3.70 Ngày này bị cắt nguyên: ”Đọc những lá thư của anh càng hiểu càng thương anh vô cùng anh Năm ạ. Quả thực anh đã lo đã thương em vốn một tình thương sắt son ruột thịt anh em ta thường nói với nhau rằng:: Dù trong hoàn cảnh nào cũng giữ trọn tình anh em thủy chung như nhất. Đâu có phải em không tin anh, em thường nói với chính em rằng tin anh như tin bản thân mình nhưng ngay cả với bản thân mình em cũng nhiều lúc không hiểu rằng xử trí như vậy đã đúng chưa vì vậy anh đừng trách khi em giận anh. Thực ra cũng vì có một tình sâu đậm nên mới cảm thấy giận anh, nếu không, 1 lá thư như vậy, những câu nói như vậy hết sức bình thường với những người khác nhưng … với em lại khác, em đòi hỏi ở anh một sự quan tâm, đòi hỏi ở anh mấy biểu hiện của 1 tình thương đằm thắm trong sạch của một người anh trai đến với đứa em cưng của anh. Đòi hỏi ấy có cao không nhỉ? Anh đã dành tất cả tình thương duy nhất, độc nhất cho em gái anh thì như vậy đâu phải là cao. Vậy đó anh à, hãy hiểu em nhiều hơn nữa nghe anh, hiểu cáí đứa em gái có trái tim đầy nhiệt tình, đầy ưu ái và niềm tin ở cuộc đời dìu em đi từng bước, Em còn dại lắm! Em tin người ta dễ dàng mà cuộc đời chưa phải đáng để tin như vậy… mong anh cứ là người dìu dắt em đi từng bước một trên con đường chông gai nguy hiểm nhưng rất đổi vinh quang mà anh em mình đã chọn”.

– 28.3.70 câu ”địch uy hiếp” của ngày 28/3 nhưng sách in chuyển qua ngày 29.3.70 một cách vô lý.

– 1.4.70 câu này in trang bìa cuốn sách mà Hoàng Phùng Quân phát hiện qua kính lúp:“Kỷ niệm 10 năm ngày vào đoàn, 10 năm qua từ 1 thiếu niên bây giờ Th đã là 1 cán bộ dày dạn trong khói lửa. Th không tự hào mà chỉ thấy rằng mình đã làm đúng như lời thề dưới cờ Đoàn ngày hôm ấy. Những đêm dài suy nghĩ, Th ơi , hãy nghiêm khắc với bản thân hơn nữa đừng để một câu hỏi làm đau nhói lòng Th? mà hãy hỏi: Tại sao Th lại để mọi người không hiểu mình?. Đành rằng có những người họ không thể nói được. Vậy thì hãy làm như những người đó. Đừng khóc Th ơi, nước mắt hãy giành cho ngày gặp mặt những người thân yêu. Đêm khuya, nằm bên những người đồng đội, họ đã ngủ hơi thở đều đều, ngoài kia từng tràng pháo nổ dậy trời. Ơi những người đồng chí của tôi ta đang cùng chung hơi thở giữa chiến trường lửa khóc, hãy yêu thương đùm bọc lẫn nhau, sống chết kề 1 bên ghen tuông kèn cựa để làm gì”.

Một đoạn đậm đà tình nghĩa bị cắt thật đáng tiếc!

– 5.4.70 Bản tay: “Có phải vì cô đơn mà cảm thấy nhớ thương đến vô cùng hay không hở người anh thân thiết của em? Chiều nay các anh lên đường về cơ quan phục vụ, bỗng nhiên nỗi nhớ tăng lên bội phần. Cuộc sống sao mà phức tạp mà sao mình làm lại 1 con bé sống với trái tim giàu tình cảm như thế này? Tại sao ư? Vì từ nhỏ đến giờ nó đã như vậy, nghe những ý kiến của chị Hạnh cảm thấy buồn lạ lùng. Con người vẫn có những kẻ sống với tầm mắt nhỏ hẹp, họ không thể có được những tình cảm trong sáng chân thành như một số người khác. Với họ chỉ có vật chất, chỉ có xác thịt! Ôi ghê tởm làm sao. Anh trai của em ơi, có đúng như lời anh đã nói ‘Tình anh em ta sẽ tồn tại mãi mãi dù thời gian không gian biến động thế nào?’ nghĩa là ta sẽ đàng hoàng trong sạch mà sống, dẹp qua mọi rác rưỡi gai góc cản trở đường đi của ta. Em cũng đã làm như anh, sẽ thực hiện đúng như lời em đã hứa cùng anh…. Bao nhiêu cũng không đủ túi tham, bao nhiêu cũng không thỏa mãn cái cuồng vọng của ”bọn quỷ khát máu”.

Trang luận đề này có rất nhiểu chuyện đời xấu xí để bàn và có những tình cảm là động lực sống cần trân trọng đã bị biên tập cố tình quên lãng, cắt cho xong!

– 7.5.70 Bản tay còn một câu cuối bị cắt: ”Chiến thắng lịch sử ấy đã bẻ gãy đầu tên thực dân Pháp xâm lược”. Ý của người viết nhật ký như vậy thì cứ để nguyên như vậy. Có sao đâu mà phải cắt? Chắc biên tập cho là phải viết… ”bẻ gãy cổ” mới hình tượng hơn? Còn cái câu: “Và đã có ai dũng cảm ngoan cường chiến đấu bền bĩ dẻo dai như chúng ta chăng?” có gì quá đâu cũng bị cắt?

– 13.5.70 Bản tay: ”Em ơi hãy bồi đắp cho chị tình chị em mãi mãi thắm thiết như ngày nào ta sống cùng bên nhau trên quê hương Phổ Hiệp. Thực ra trong những ngày qua chúng tôi có đôi nét mờ đi trong chiến tranh tuyệt đẹp của mối tình cảm ấy vì không biết gìn giữ, lỗi đó ở em hay ở mình”.

Tội cho Đ.T.T, lâu lắm rồi mới gặp lại đứa em kết nghĩa là Nghĩa sau những giận hờn. Mới nói với nó thêm câu chót thì bị ”mắc nghẹn” bởi ban biên tập. Thành thử có một bác Nghĩa hồi đó còn sống thì hãy vào web điện tử mà đọc bản viết tay đầy đủ hơn bác nhé!

– 19.5.70 Th viết cho mẹ: ”Phải chăng trái tim con mang trang lửa đạn mà vẫn còn mềm yếu. Con người CM như vậy đã được chưa? Còn nhớ lời của Lê Nin ‘người con là người có trái tim giàu tình cảm nhất’ và con đã làm như vậy” bị cắt luôn.

Người viết bài này, bực quá, nói thêm: “nhưng mẹ ơi, họ cũng chẳng để cho con nói hết tiếng lòng của con với mẹ. Nếu họ ghét Lenin hay sợ người ta ghét Lenin mà không mua sách thì con cũng không biết nói gì hơn đành ngậm hờn mà chết vì con đã có một thời là người của một chế độ do các ông ấy đẻ ra. Họ cũng lớn lên dưới chế độ đó mà?”.

Hà hà hà… Biên tập có quyền cắt thì độc giả sao không có quyền thêm?

– 24.5.70 Bản tay bị cắt “nhưng tại sao vậy hở anh? Tại sao nỗi lo đó cho mình trước lúc ra đi ‘là điều lo anh để lên hàng đầu’ mà anh lại cũng làm thinh không nói? Tại sao lúc chưa gặp anh mong chờ da diết mà lúc em đến anh lại cũng làm thinh?. Ôi người anh thân thiết, anh rất gần mà lại cũng rất xa. Em hiểu anh hết rồi mà cũng không hiểu hết (mà chính anh cũng thắc mắc với anh nữa kia mà!). Sao vậy hở anh”.

Ta thấy chàng Tân này sui xẻo nhất vì đoạn cắt nhiều nhất là đoạn Đ.T.T viết cho ”người anh trai” này.

– 4.6 và 6.6 Đ.T.T ghi lộn 4.7 và 6.6 mà biên tập có “công” đã sửa đúng.

– 4.6.70 Sách in thiếu một đoạn sau: ”CMMN! nhiều cái anh hùng nhiều chuyện lịch sử mà cũng còn nhiều phức tạp, nhiều rác rưỡi trong xã hội. Cũng dễ hiểu thôi vì tất cả cho sự nghiệp đánh Mỹ cứu nước nên ta chưa thể tập trung sức lực để xây dựng những con nguời xhcn, những con nguời toàn diện biết sống vì mọi người, biết ăn ở và nếp sống có văn hóa”. Có nghĩa là: có anh hùng, có những cái làm nên lịch sử thì cũng có nhiều phức tạp, rác rưỡi. “Nhật ký Đ.T.T” đã “làm nên anh hùng ĐTT”, làm nên ”lịch sử bán sách” suy ra… ôi cha mẹ ơi còn suy ra gì nữa mà không cắt kẻo có người đem từ ”phức tạp, rác rưỡi” đặt sau từ ”anh hùng” và ”lịch sử”.

– Sau hai trang để trống đã được đánh số là địa chỉ của ba mẹ Đ.T.T mà biên tập không in.

4. Nhận định chung:

Nhìn nhận lại: Biên tập đã có những phần cắt như sau: (Giống như Phạm Hoàng Quân và Nguyễn Ngọc Giao tìm ra, người viết xin bổ sung và làm rõ hơn chút nữa).

a. Phần cắt xén, lầm lẫn ngày:

– Cắt những dòng tình cảm Đ.T.T viết cho Tân tức là anh Năm, Bí thư huyện uỷ với những đoạn tương đối dài: 1.9.69/ 1.11.69/ 19.1.70/ 15.2.70/ 24.3.70/ 5.4.70/ 22.5.70…

– Cắt những đoạn độc thoại của Đ.T.T về sự nhận thức làm con người XHCN, được tham gia vào CMMN là một vinh dự và những đoạn ”tiếng lòng” dành cho những ”em” như Thường, Chín, Nghĩa, Thuận: 20.7.68/ 10.11.68/ 16.7.68/ 27.2.69/ 1.2.70/ 1.4.70/ 7.5.70/ 13.5.70/ 4.6.70…

– Cắt nguyên ngày: 1.4.70/ 5.4.70 và một số ngày lộn không đúng như nhật ký đã ghi như 9.3.70 thành 8.3.70; 28.3.70 thành 29.3.70; 13.5.68 thành 12.5.68… không hiểu có ngụ ý gì?

Những đoạn, câu đã được phục hồi ở trên.

b. Phần xén và thêm bớt làm hư hỏng nội dung của nhật ký: Xin ghi lại dưới dạng phân tích giá trị thẩm mỹ:

– Câu ngày 28.6.68: ”Không! M. ơi, hãy đi đi, đừng gieo đau buồn lên con tim rớm máu của Th. nữa nếu quả thật giữa chúng ta không thể nào có một hạnh phúc vĩnh viễn dù cả hai chúng ta còn sống sau cuộc chiến tranh này”. Biên tập cắt ”nếu qủa thật”. Người đọc dễ dàng thấy mức độ hai câu khác nhau khi có hoặc không có liên từ chỉ điều kiện ”nếu quả thật” như đã chỉ ra ở phần trên. Tác động của thời thế (có thể hoặc khả thi thôi chứ chưa là sự thật) đã được thay bằng chủ động “tiên đoán” chắc như đinh đóng cột của Đ.T.T là sai nguyên ý của Đ.T.T

– Câu ngày 11.2.69:”Riêng mình tâm tư nặng chĩu, bề bộn lạ lùng” thành ”Riêng mình tâm tư bề bộn lạ lùng”. Câu này không hay ho gì hơn mà trái lại, câu rối rắm vì “tâm tư” phần hồn không thể nào “bề bộn” như vật chất?

– Câu tiếp ngày 20.7.69: ”Nghĩa là có cái gì thoáng nét tư tưởng hữu khuynh xuất hiện trong Th. đó” sửa đổi thành ”tư tưởng bi quan xuất hiện trong Th. đó”. Từ này để dành cho các bậc nghiên cứu triết học có sân chơi khi ban biên tập đánh đồng hai câu làm một.

– Ngày 3.2.70 Th viết: “Đó phải chăng là cái nghèo của một cái tết chiến tranh trong cảnh gia đình túng thiếu’ thành “Đó phải chăng là cái nghèo của một cái tết chiến tranh trong cảnh gia đình thầy thuốc”. Từ ”Túng thiếu” nói chung cả một lớp người đã biến thành nhỏ hẹp trong phạm vi ”thầy thuốc”? Mẹ cha ơi! Sửa cái chi mà hay dữ? “Túng thiếu” thành “thầy thuốc”? Đ.T.T may mà không viết tắt hai từ TT, nếu không, ban biên tập mượn cớ thanh minh vì “suy đoán”, “phỏng đoán” nên… lầm lẫn!

– Câu nguyên văn ngày 6.5.68: khẳng định ”đời phải qua giông tố nhưng chớ có cuối đầu trước giông tố mà thực ra giông tố đến với mình vẫn là những cơn giông…” thành câu “đời phải trải qua giông tố nhưng chớ có cuối đầu trước giông tố mà. Thực ra giông tố đến với mình…”. Câu của Đ.T.T bị biên tập ngắt thành hai câu.

– Trang 32 bản chép tay “Mình bỗng nhớ đến câu thơ của Tố Hữu” bị biên tập ngắt mất chủ ngữ ”Mình” thành con tôm đứt đầu: ”Bỗng nhớ đến câu thơ của Tố Hữu” (trang 58 sách in). Trong trường hợp này đâu cần dùng ”câu đặc biệt” vô tội vạ như thế được?

– Cụm từ động lệnh ”Suy xét kỹ đi” biến thành ”Xét kỹ đi” (trang 71 sách in ngày 14.8.68). Từ ”Suy xét” chỉ tính chất trăn qua trở lại tự hỏi, tự bảo mình làm sao? Tự dưng nhảy vào cái ào ”Xét kỹ đi” như ra lệnh, như một cái ”hất hàm”. Một cắt xén vô bổ, chỉ gây thương tật cho câu cú, ý nghĩa người viết. Đọc mà… mệt mỏi!

– Trang 72 câu đầy tình nghĩa của Th dành cho cái chết của Khiêm bị cắt tàn nhẫn “Khiêm ơi có cách nào nghe được lời Th nói một lần nữa hay không?”. Đây là câu đáng ghi nhận nhất của một người sống đau khổ dành cho người chết trong tư cách bạn bè. Chúng ta có đồng ý sự cắt xén này là hợp tình, hợp lý hay không?

– Ngày 28.3.70 Th diễn tả: “một mảnh pháo to chẻ nát một thân cây lát hầm nay giữa nhà mổ thành ngày 29.3.70 sách in trang 235 biến ”nhà mổ” thành phòng mổ”. “Phòng mổ cái gì chứ? Đ.T.T đã dùng từ chính xác vì bệnh xá di động giữa trận càn, giữa một cuộc chiến làm gì có cái ”phòng mổ” nghe tối tân, ngon ơ như vậy? Từ sửa đó làm giảm mất giá trị công việc hết sức gian khổ nhưng rất đáng thán phục của người bác sĩ này.

– Bốn câu bị cắt vị ngữ : Ngày 22.7.69 trang 170 cuối cùng: “đó chỉ là tình chị em, tình cách mạng chân thành ruột thịt ” bị… hà ăn mất cụm vị ngữ ”chân thành ruột thịt” nên chỉ còn ”tình cách mạng…”. Câu: ”Vững bước mà đi nghe người con gái xã hội chủ nghĩa trên đất miền Nam”. Tiếng lòng tự nhủ, tự hào của Th cũng bị chặt khúc đuôi chỉ còn “vững bước mà đi nghe”. Ai đi? (ngày 30.3.70) và câu: “Quyết đánh cho đến cùng để đánh dập đầu con rắn độc hiếu chiến’‘ đầy lòng căm thù tột đỉnh thì biến thành: “Quyết đánh đến cùng”. Đánh ai? Đánh cái gì? (ngày 5.5.70) hoặc: “Hãy cố gắng học tập và rèn luyện để làm một người cán bộ đáng tin cậy của Đảng” thành “Hãy cố gắng học tập và rèn luyện”. Để làm gì? Những vị ngữ đó, chúng có giá trị khẳng định mục tiêu, lý tưởng mà cả một đời Đ.T.T ôm ấp. Ra trận mà không biết mình chết vì ai? Vì cái gì? thì giống như một người điên bị đẩy ra làm bia đỡ đạn có nghĩa gì đâu!

Chưa vững cấu trúc cơ bản của ngữ pháp tiếng Việt, không hiểu giá trị chân thật của văn học mà đòi làm biên tập, trường hợp này, đâu chỉ mỗi Đặng Kim Trâm?

c. Phần cắt về lập trường tư tưởng với thái độ chỉ trích đụng chạm đến Đảng:

– ”Phép vua thua lệ làng” khi Đ.T.T viết: “Rất nhiều người trong tỉnh, trong huyện đều đôn đốc thúc giục việc giải quyết quyền lợi chính trị cho mình” nhưng ta thấy Đ.T.T thất vọng vì bọn đó có để cấp trên trong mắt đâu. Đó là nguyên do thúc đẩy ngòi viết của Th xoáy vào trọng tâm: “Tại sao khi ta là kẻ đúng, mà không đấu tranh được với số nhỏ, để số ấy gây những khó khăn trở ngại cho tập thể”’ (ngày 29.5.68 trang 22 bản tay và trang 50-51 sách in thiếu) đến nổi tập thể đúng mà ”Không thắng được vài đội ngũ ở bệnh xá” (ngày 15.6.68). Ở bệnh xá hay ở bất cứ nơi đâu trên đất Việt Nam này, một nhóm người số ít thống trị cả số đông gấp triệu mà số đông ấy không làm gì được cả. Đây là vấn đề ”thời sự” hiện nay mà các nhà ”ly thân” tốn nhiều nuớc miếng, tiêu hao bút mực, ở tù mọt gông cũng chỉ bấy nhiêu. Thế mà đi trước các vị những ba mươi bảy năm, nhân vật Đ.T.T đã nói hết trơn, hết trọi!

Sở dĩ, Đảng không ”trị” Đ.T.T vì Th chỉ chỉ trích, lên án bằng nhật ký chớ không ”cáo trạng” cho Đảng biết. Không biết thì làm sao ”trị”. Bây giờ ”trị” cũng không được vì cái người chỉ trích Đảng sâu này mọt kia, hèn mọn này, nhỏ nhen nọ là người dám chết cho đất nước mà Đảng chính là ”đất nước” rồi còn gì? Thêm nữa, cuốn nhật ký này trên được cắt cho vừa lòng, dưới thêm thắt cho nhẹ tội thì vui vẻ cả làng lan cả nước bước sang đại dương tha hồ ”hốt bạc”. Không phải xuất bản ào ào như cuồng phong bão táp đó sao? Thế nhưng, liệt sĩ Đ.T.T đâu có dặn cắt chỗ này, xén chỗ nọ để xoa dịu đấu tranh, đấu tố hiện nay? Đ.T.T đã viết “Đấu tranh giữa hai luồng tư tưởng lạc hậu và tiến bộ là những người đang phấn đấu vì sự nghiệp chung”.

Một câu phán đoán thật sâu sắc đáng chạm vàng, chạm ngọc mà bị cắt oan uổng làm sao! Câu này là câu làm cho đôi bên “xích lại gần nhau”: Xích mích trong nội bộ Đảng giữa ”bảo thủ” hay ”đổi mới ” hoặc ”dung hòa ” và xích mích giữa Đảng với các “khai quốc công thần”, tất cả không phải vì đất nước cả hay sao? Cái đáng lo lắng nhất là “cảnh giác chiến tranh”. Chiến tranh súng đạn không đáng hãi hùng bằng chiến tranh với những con siêu vi trùng. Siêu vi trùng thiệt hay siêu vi trùng tham nhũng đều giống nhau. Chuyện ”phun thuốc diệt trùng” hay “chích ngừa phòng bệnh” đâu phải chỉ là chuyện của mười người trong bộ chính trị. Giá như Đ.T.T còn sống, chỉ có mỗi một nhân vật này tay cầm súng, tay cầm ống tiêm thuộc một trong mười ba vị kia chắc gì đời tươi sáng hơn hiện tại? Biểu quyết thì lúc nào đa số cũng thắng thiểu số mà nhiều khi công lý đâu nằm trong nhóm đa số nên thiểu số có đúng, giỏi, tài cũng đành chịu thôi!

– Một cái câu Đ.T.T viết có ý nghĩa nữa là: ”Đừng đòi hỏi ở cuộc đời quá nhiều nữa”. Những bản cáo trạng nếu viết được như Đ.T.T vừa tình vừa lý với một tấm lòng tha thiết vì đất nước không một chút hằn học, trịch thượng hay kẻ cả như máu chảy đến đâu thấm đỏ đến đấy thì người nhận cáo trạng mà không hề xúc động thì thật là kiếp lũ mọt, lũ sâu thật rồi.

Đấy là những gì của Đ.T.T, người viết không có “gan” không sợ “ma liệt sĩ” mà thêm thắt hay cắt bớt.

5. Vài suy nghĩ :

* “Nhật ký Đ.T.T” xuất bản như cái cây xanh bị xén trụi mớ lá cành so với cây gốc bởi người xuất bản không nắm được tính chân thật cần phải bảo đảm một trăm phần trăm của tác phẩm nhất là tác phẩm nhật ký. Họ tự tiện sửa đổi mới bị nhiều bài viết phản hồi. Thực ra, những bài viết này chẳng có ý gì khác là mong muốn cuốn sách in ra phải đạt cho được ít nhất là sự tôn trọng tác giả, độc giả chứ không phải chạy theo lợi nhuận mà quên mất giá trị thực sự đáng có của một tác phẩm. Những người nghiên cứu văn học chân chính mắt đâu bị bồ lệch ăn mà không thấy những râu ria. Có những điều, họ không phải lên tiếng lúc nào cũng được cả.

* Biên tập chưa nắm vững kiến thức cơ bản của từ ”xã hội chủ nghĩa”, ”chủ nghĩa cộng sản” mà chỉ muốn cắt xén bớt những từ ngữ đó cho hợp với tình hình hiện nay. Biên tập biết rõ người ta không ưa cái từ đó nên buộc phải ”lấy lòng thời cuộc”. Nếu vô tư như Đ.T.T thì tại sao phải xóa sạch những từ ngữ đó? Nhưng xin nhắc rằng: Tác giả là người của một thời xhcn còn là một cái tên đẹp đẽ, hấp dẫn với mục tiêu “Xoá bỏ giai cấp bóc lột, xoá bỏ người bóc lột người”. Xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là xây dựng một nước không có giai cấp. Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa là xây dựng con người có tất cả những đức tính như Đ.T.T đã có kể cả tính chất đấu tranh phê và tự phê. Cao cấp như thế! Tuyệt vời như thế thì làm sao đi ghét xhcn hay cnxh? Không phải cụm từ đó xấu, cụm từ tạo ra nhiều cáo trạng mà là vì người thực hiện chưa hoàn chỉnh. Con người là tế bào xã hội. Xây dựng con người ”không mới” thì tế bào bị ung thư hóa đi. Lỗi ấy không phải tại những cụm từ. Cụm từ không thay đổi bản chất nhưng kẻ thi hành đã quên mất mục tiêu!

Cắt những cái đuôi như thế vô tình biên tập mang Đ.T.T cùng cuốn nhật ký trở về năm tháng hiện tại chứ không phải là Đ.T.T người viết nhật ký cách đây mấy chục năm về trước. Một hiện thực nhật ký phi lịch sử. Có ai bây giờ ăn mặc như những hiệp khách thời xưa đi chợ mua bó rau muống? Không thể có những kiếm khách giang hồ trong kiếm hiệp mà cầm cây súng khạc ra lửa? Ngôn ngữ thời nào nên để nó nằm nguyên thời đó. Tại sao người ta chuộng đồ cổ? Chính là giá trị lịch sử của nó đã khắc vào những hoa văn. Những từ ngữ CM, XHCN, CNCS, CNXH, CMMN nằm trong thời kỳ lịch sử mà lý tưởng, mục tiêu của chúng là ước vọng của một tầng lớp người thời ấy. Đ.T.T ở trong lớp người ôm ấp lý tưởng hy sinh cho đất nước để hy vọng xây dựng hoà bình. Đ.T.T chết vì lý tưởng đó. Công nhận anh hùng cho Đ.T.T hay không, không quan trọng. Cái quan trọng là người đời sau đừng vì lấy lòng thời cuộc mà thủ tiêu lý tưởng cao đẹp đó của một con nguời chân chính trong một thời kỳ.

* Biên tập thiếu một tấm lòng hiểu biết ba từ ”Chân, Thiện, Mỹ”:

Khát vọng về tình yêu của Đ.T.T chưa được biên tập đồng cảm. Những câu viết rất đáng được công bố về tình cảm riêng tư nằm trong tình cảm chung là ”tiếng lòng ” của người đã chết vì đất nước. Cắt đi những ”tiếng lòng” này không những là ”xúc phạm” người chết mà còn là giảm đi tính cách ”con người ”của một người anh hùng. Anh hùng cũng là con người chứ nào gỗ đá mà không biết rung động, yêu thương, thù ghét? Những kẻ cắt bỏ những đoạn coi như khúc ruột của Đ.T.T chính là những kẻ chưa hiểu gì về một tình yêu giữa thời chiến tranh mà sự sống và cái chết coi như cận kề. Vương Trí Nhàn là bạn. Đặng Kim Trâm là em ruột. Chao! Tình bạn sáng ngời, tình chị em ruột thịt thắm thiết! Ta với người chết chỉ là người dưng nước lã nhưng ta đau theo cái đau của người chết. Ta lên tiếng dùm cho người chết coi như ta ”ách giữa đàng quàng vô cổ”. Tất cả chỉ vì mong muốn Đ.T.T phải được trả nguyên giá trị con người Đ.T.T cách đây ba mươi bảy năm: Một con người sống có lý tưởng, có tình yêu cao cả và có tầm nhìn lịch sử đi trước thời đại.

* Biên tập như người ở ngã ba đường: Sự giảm bớt mức chỉ trích Đảng nhưng không xóa mất hết là vì hiểu rằng bây giờ có nhiều người chống Đảng. Người chống Đảng thấy Đ.T.T chửi Đảng thì hả hê. Đảng im lặng là vì những từ chỉ trích đó không còn xa lạ trong nội bộ cũng như vượt ra ngoài sự đấu tranh nội bộ với nhau. Người này sẽ nghĩ người bị chỉ trích không phải mình là xong chuyện bởi Đảng tới ba bốn triệu người. Người Đảng chửi Đảng thì có khác nào chửi mình?

Cắt từ xhcn, cmmn… vì biết người miền Nam không nguôi cơn hận 30.4.75. Để những câu căm thù Mỹ tận cùng bằng số coi như VNCH không có nhúng tay vào mà mua lòng họ. VNCH mất miền Nam trù phú đã căm Mỹ, căm tổng thống Mỹ sợ mất phiếu bầu mà xô quân đội VNCH vào biển cả, bắt chước Trịnh Hâm ”giữa đàng bỏ bạn”. Họ đọc Đ.T.T chửi Mỹ cũng như chửi dùm họ. Nhưng biên tập đã lầm to: Những người chân chính sẽ hiểu rằng đằng sau cái áo Mỹ là quân đội VNCH. Kẻ nào tát vào mặt Mỹ thì cũng như mặt VNCH đã ăn cái tát thứ hai. Mỹ thiệt ra là ”ân nhân” của biết bao nhiêu người. Tấm lòng ”phiến mẫu” này không chỉ vì Mỹ bỏ VNCH hay dội bom miền Bắc mà quay lại phủi ơn. Cái nào ra cái đó. Thù nước phải trả nhưng ơn nghĩa phải đáp đền. Con người chân chính không là kẻ sống vô ơn với bất cứ những ai đã từng cho ta giọt sữa trong lúc ta là đứa bé khát sữa mẹ như Đ.T.T đã ví von. Cũng chẳng ai nhỏ mọn ở tấm lòng. Thương xót cho Đ.T.T hay cảm phục Đ.T.T cũng là lẽ thường tình vì hình ảnh anh hùng của Đ.T.T, quân đội VNCH sao không có những con người như thế trên chiến trận? Cảm phục một anh hùng là chính chúng ta cảm phục một con người lấy cái chết đền nợ núi sông. Kẻ anh hùng không có giai cấp, không có biên giới lịch sử che chắn. Đừng tưởng chừng làm như thế là để dung hòa được mọi miền, thổi phồng anh hùng ca Đ.T.T, mở ra huyền thoại Đ.T.T để người đọc như bị tung hỏa mù mà lấy lòng người nước ngoài, người Việt ngoài nước. Thực ra, không cần mất công như thế, người ta cảm phục Đ.T.T và người ta mua sách là tò mò, là để đọc, để nghe tiếng nói chân thật của một người con gái được đào tạo chính quy dưới mái trường xhcn. Người con gái đó là một người trí thức có trình độ khác với trí thức bằng cấp mà vô văn hóa. Tìm hiểu tính chất anh hùng của Đ.T.T là tìm hiểu tiếng nói đó mà thôi. Con người này dám nghĩ, dám viết, dám hành động, dám chết nhưng có một nhược điểm là chưa dám nói. Cuốn nhật ký bản chép tay đã cho ta thấy như thế.

Chính cái việc bơm H2 cho quả bóng ”Nhật ký Đ.T.T” bay lên trời sẽ là những nhát dao xẻ thêm vào nỗi thương tâm của những gia đình, những ai có người thân là liệt sĩ, là thương phế binh. Những cái chết, những thương tật của họ cũng như Đ.T.T mà nhiều khi cống hiến của họ còn lâu dài hơn Đ.T.T nhưng họ không viết… nhật ký nên số phận những con ma liệt sĩ không “kỳ lạ” như Đ.T.T. Những tấm thân tàn phế sẽ buồn hiu, buồn hắt khi nhìn sang bên kia sông nhật ký rầm rầm, rộ rộ ca tụng tới bến, nổi sóng lềnh bềnh mà… chảy nước mắt. ”Có mới nới cũ” chính là cái bệnh nan y trong cơ chế chính trị và trong đối nhân xử thế khiến trên bất mãn, dưới oán hờn. Đối xử với một con người như thế nào thì mình sẽ nhận lại như thế từ người khác ném trả lại mình. Người xưa có nói: ”Gieo giống nào gặt trái ấy” đó thôi.

* Biên tập cắt những lời độc thoại, tự kiểm thảo của Đ.T.T không tiếc thương:

Tiếng nói đấu tranh phê và tự phê trí tuệ chỉ bật ra khi người ta nhìn ra ở lý tưởng mình theo có những ngã ba đường. Không thể bắn người mà không nghĩ đến người bị bắn. Không thể thấy nắng mà không thấy những cơn mưa bất ngờ. Không thể thấy tiền mà mờ cả mắt lương tri. Cắt đi những lời độc thoại đó coi như là một sự chuẩn đoán bệnh sai lầm nên thay vì đau ruột thừa lại đi cắt mất lá gan!

* Sự cắt xén thêm thắt từ ngữ câu chữ đã làm ảnh hưởng tới những bài nghiên cứu, phân tích hay bình về cuốn nhật ký nhiều sai sót và chưa được trung thực này bởi vì theo nguyên tắc nghiên cứu, phê bình văn học, người viết phải bám vào tác phẩm mà viết. Nếu như cuốn nhật ký này không có bản tay mà trường đại học công nghệ Texas, Mỹ lưu giữ thì độc giả biết đường nào mà lần cái chiêu ”mập mờ đánh lận con đen” này của Ban biên tập chưa qua trường “mẫu giáo mầm non” mà những bài viết phản ứng quyết liệt đã đầy trên các web site!

III. NGHI VẤN HỒI KÝ HAY NHẬT KÝ:

1. Hồi ký hay nhật ký dạng hồi ký?

Trở lại vấn đề Đặng Thùy Trâm (Th: viết tắt tên Thùy mà Đ.T.T và bạn bè dùng cho Đ.T.T) viết hồi ký hay nhật ký?

Th vào Quảng Ngãi tháng 1.1966. Ngày 17.2.66, Đ.T.T có viết thư cho Niệm (Dương Đức Niệm, Phó Giáo sư chủ nhiệm khoa Nga kiêm Bí thư Đảng uỷ Trường ĐHSPNN, Hà Nội) theo lời kể của anh mà Vinh Thu ghi chép trong ”Đi tìm Sulico”. Khoảng thời gian này, Th chưa viết nhật ký vì không có tài liệu nào chứng minh. Một thắc mắc được đặt ra: Tại sao người yêu thích viết nhật ký như Th mà lại phải chờ đến ngày 8.4.68 mới viết tức là sau ngày viết thư cho anh Niệm gần hai năm?

Cuốn “Nhật ký Đ.T.T” của nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam phát hành bao gồm hai cuốn nhập lại: Cuốn một viết từ ngày 8.4.68 đến 4.12.69. Cuốn hai từ ngày 31.12.69 đến 20.6.70 (chính là cuốn mà Mỹ đã lấy được của Th khi Th hy sinh) chính xác ngày tháng năm so với bản chép tay không có gì bàn cãi. Vấn đề ở chỗ ở cuốn thứ nhất có nhiều dữ kiện chưa hợp lý khi căn cứ vào nội dung nhật ký đã ghi.

– Trong thời gian này, Th cho biết mình đã mất hai cuốn ngày 28.6.69 trong một trận giặc càn vào Đồng Răm. (Khi Th đang viết những dòng cho ngày 15.1.70 thì nhớ lại ngày 28.6.69 đó). Một thời gian hai mươi tháng, Th viết tới hai cuốn. Như vậy, số trang không đơn giản chỉ bấy nhiêu? Dĩ nhiên, ta thấy viết ít hay nhiều tùy thuộc vào khả năng người viết trong hoàn cảnh nào được cho phép. Nguyễn Văn Thạc chỉ tám tháng viết 240 trang chép tay trong khi Th gần hai năm còn ít hơn con số trang của Thạc. Điều đáng bàn ở đây là Thạc không mất nhật ký mà Th lại mất. Chính vì vậy, số trang nhật ký hai năm cộng thêm phần cắt bỏ cũng chỉ bằng tám tháng của Thạc.

Người viết bài này chắc chắn rằng nếu không có một bằng chứng thêm nào về hai cuốn mất trước ngày 29.6.69 thì Đ.T.T đã viết ”hồi ký” dưới dạng ”nhật ký” bằng ”cái đầu” nhớ lại của mình như Th đã nói lấp lửng ở ngày 15.1.70. Vì viết lại bằng cái đầu nên có những dữ kiện rất đáng được ghi, Th lại như quên mà không ghi vào. Ví dụ như: Tháng ngày kết nghĩa với Nghĩa, Thường, nhất là nhân vật chị Khiêm. Nhân vật này có thật trong cuộc đời, còn sống và đã được Ngọc Tấn ghi lại lời kể của chị trong bài: “Đặng Thùy Trâm qua lời kể của chị kết nghĩa” (vietnam.net). Chị kể lại là chị kết nghĩa với Th cùng Thường, Nghĩa, Thuận. Nhưng lạ thay, trong nhật ký, Th hình như chưa hề nhắc đến chi tiết về người chị kết nghĩa này ngoài từ ”chị hai” hai lần trong cả cuốn sách và những lá thư Th viết cho chị ta với những câu quan trọng như nhờ chị mang nhật ký về cho gia đình cũng không được Th nhắc đến như sau:

“Một lần vào đầu năm 1968, Thùy Trâm cùng chúng tôi xuống đồng bằng cõng gạo. Biết đoạn đường qua Đồng Lớn địch thường phục kích, trước khi đi Thùy Trâm lấy cuốn nhật ký bỏ vào ăng-gô dặn tôi: ‘Nếu em mệnh hệ gì thì chị nhớ gởi về cho gia đình em’ ”.

Kỳ quái ở đây là nếu chị Khiêm nói đúng thì Đ.T.T viết nhật ký trước năm 68 vì chị Khiêm nói là “đầu năm 1968”. Cuốn đó giờ ở đâu? Chị Khiêm cất nó ở nơi nào? Vì bản chép tay và sách in ghi rõ ràng Đ.T.T viết nhật ký bắt đầu từ 8.4.68 thì lấy đâu ra có cuốn mà ”đầu năm 68” mà Th đã như ”trăn trối” với chị Khiêm? Nếu Đ.T.T đúng thì chị Khiêm nhớ lầm. Giữa hai cái đúng sai này, ta không thể chọn một mà cần dung hòa: Th viết nhật ký trước năm 68, tức là ít nhất năm 67. Còn cuốn từ đầu năm 68 đến ngày 8.4.68 ở đâu? Hay là 4 tháng này, Th không viết nhật ký? Có phải cuốn chị Khiêm nói và cuốn 4 tháng đầu năm 68 chính là hai cuốn mất tại Đồng Răm ngày 28.6.68?

Theo chị Khiêm, Th viết thư cho chị ngày 20.10.69 nhưng dòng nhật ký của Th thì ngày đó, Th chỉ ghi cảm xúc trước cái chết của anh Tám Vinh mà thôi. Tương tự, thư ngày 22.4.70 mà chị Khiêm nói, Th chỉ dành vỏn vẹn tám dòng cho ”em” chớ không nói năng gì Th đã viết thư cho chị cả. Thư ngày 20.5.70 cũng cùng chung số phận vì ngày này, Th không ghi nhật ký.

Như vậy xét về tính chất nhật ký của Th, những sự kiện như mình đã làm gì trong ngày hầu như Th đã thiếu sót. Nhật ký là phải ghi công việc của mình làm hằng ngày, những gì xảy ra trong ngày chứ không phải chỉ có ”tiếng lòng”. (Nhật ký của Thạc cũng vậy, chất trữ tình ngoài đề nhiều hơn có thể thành ”tùy bút” vì những trang nhật ký qúa ít ỏi). Xem ra, lời kể của người sống và sự ghi chép của người viết đã không ăn nhập gì với nhau cho lắm.

– Nhật ký của Thạc có những trang viết về tình bè bạn, thầy trò thắm thiết về trường ĐHBK. Ở nhật ký Th, tình thầy trò hầu như vắng bóng mà bạn bè cũng không có những cái tên Niệm, Nhàn, Điềm, Huy… những người đã được Th viết thư thường xuyên như lời họ kể. Có gì kỳ lạ?

Có lẽ vì ”hồi ký” nên Th đã chẳng thể nào nhớ hết? Cũng không thể nghĩ xa hơn sự trung thực của Th. Như chúng ta đã thấy, Th không ghi mở đầu cho cuốn một là ”Nhật ký 1968” hay ”Nhật ký 1969” như Th đã ghi rõ trong cuốn hai (mất tại Ba Tơ và Th hy sinh ở đây) là ”Nhật ký 1970 Xuân Canh Tuất ”. Biên tập và nhà xuất bản không chú ý nên đã lầm tưởng toàn bộ là nhật ký.

– Có thể nói: Th đã ”hồi ký” toàn bộ hai cuốn nhật ký đã mất từ ngày 8.4.68 đến ngày 28.6.69 (Lại xảy ra sự việc nữa là đã ”hồi ký” sao Th không ”hồi ký” luôn những trang trước năm 68 hay đầu năm 68 như chị Khiêm kể?). Sau đó, Th trở lại viết nhật ký như thường từ ngày 29.6.68 trở đi đến 4.12.69 thì dứt cuốn một như bây giờ. Ta có thể suy luận một chút: Nhật ký mất ngày 28 mà qua ngày 29, Th cũng không có lấy một chữ nào về sự mất mát hai cuốn nhật ký thì coi bộ cô Đ.T.T này chẳng tha thiết gì đến kiếp tầm ”rút ruột nhả tơ” của mình mà Th cho là ”rất qúy báu”? Phải mất gần bảy tháng sau, Th mới cho người đọc biết mình mất hai cuốn nhật ký? Đó là một điều khó tin cho một con người yêu thích viết nhật ký? Vả lại, nếu Fred lấy được cuốn vừa hồi ký, vừa nhật ký này thì lấy ở chỗ khác chớ nhất định không phải ”tại Đồng Răm”. Như vậy, trường hợp nào mất và mất lúc nào?

– Mất hai cuốn đầu, nếu Th không ”hồi ký” lại thì lấy đâu ra cho chàng sĩ quan tình báo Fred thu được cuốn hiện giờ đầy đủ nhất mà nhà xuất bản hội nhà văn Việt Nam in sách bán? Giả sử Fred lấy được thì chỉ lấy một trong hai cuốn đã mất vì cuốn thứ hai Fred có được là lúc Th bị bắn chết tại vùng núi Ba Tơ. Nhưng Th viết ”giặc đã cướp đi của mình hai cuốn nhật ký’‘ tại Đồng Răm thì Fred phải lấy hai cuốn tại đây chứ sao có một cuốn? Nếu một cuốn thì chắc chắn ngày tháng năm sẽ không bao giờ có đầy đủ liên tục như bây giờ ta đọc được. Th làm sao có lại hai cuốn đã mất mà viết tiếp những trang cho đến ngày 4.12.69? Như vậy, tại Đồng Răm hai cuốn, tại Ba Tơ một cuốn, vị chi là 3 cuốn?

– Còn một vấn đề nữa cần bàn ở đây: Nếu thật sự hai cuốn đã mất ngày 28.6.69 thì Th đã lấy cuốn khác mà viết tiếp trang 29.6.69 đến ngày 4.12.69. Một thời gian năm tháng, 5 ngày Th viết chỉ hơn hai mươi trang nhật ký?! (Bản chép tay cuốn 1 chỉ có 20 trang). Với cuốn sách vỏn vẹn hơn hai mươi trang thì lý do nào Th phải đổi cuốn khác mà viết bắt đầu từ 31.12.69 đến ngày cuối cùng 20.6.70? Như vậy, sơ sơ, Th đã có đúng ba cuốn nhật ký từ ngày 28.6.69 đến 4.12.69. Nhưng nội dung ba cuốn này thì chạy về nhập cục lại trong bản chép tay của Th ngon ơ. Thật không tưởng tượng nổi có một bàn tay vô hình nào đó như trêu cợt lịch sử! Nếu Fred lấy thêm một cuốn nữa thì chỉ có lấy một trong ba cuốn đó mà thôi. Sao cuốn chép tay này của Th lại đầy đủ như chưa hề bị mất cuốn nào? Th có trung thực hay không?

Nhìn tận mắt, đọc cuốn sách in và so bản chép tay của Đ.T.T (Bản chép tay in ra từ mạng của trường đại học Texas, Mỹ), người đọc cứ thấy thời gian nhật ký trôi đi tuồn tuột như không vướng mắc cọng gai chùm kết nào cũng như không hề có chuyện Th mất hai cuốn nhật ký trước cuốn thứ hai gần cả năm trời! Người đọc cứ tưởng Th chỉ có hai cuốn nhật ký bị mất và người Mỹ đã lấy được, đã cất giữ và trả lại sau ba mươi lăm năm mà không suy nghĩ gì hết.

– Như vậy, nếu không có gì đủ chứng minh cuốn một là nhật ký hoàn toàn thì nó chỉ là hồi ký phần đầu trong cuốn một (68-69) viết dưới dạng nhật ký. Vấn đề xác định loại thể một tác phẩm xin nhường lại cho những nhà nghiên cứu văn học xem xét và cho kết quả. Hồi ký không thể như Nhật ký. Sự trung thực và mức độ chính xác hai thể loại này khác nhau. Khẳng định và cho xuất bản một tác phẩm đang còn là nghi vấn là Hồi ký này là Nhật ký và bị cắt xén quá nhiều với sửa câu, từ gán ép, trật nghĩa là chuyện không nên đối với người chân chính.

2. Ảnh hưởng tính trung thực của tác phẩm ”Nhật ký Đ.T.T” và tác giả :

a. Điều chỉnh lại không muộn:

Những người nước ngoài đang nhìn về ”Nhật ký Đ.T.T” bằng con mắt với hai chiều vì Việt Nam là nước có nhiều phụ nữ ra trận đã trở thành anh hùng. Những đài SBC, BBC, những mạng web hay báo chí nước ngoài như: Houston Chronicle, Guardian, Charlotte Observer, English Forum, The Independent, Xieng-Ixan.. (theo Hoài Việt) đều có những lời hết sức tốt đẹp về cuốn sách dù có những bài viết chống lại sự tuyên truyền hiện tượng Đ.T.T thái quá.

Cho nên, nếu người ta đã xem cuốn sách này như ”cầu nối” tình dân tộc với dân tộc thì sẽ hụt hẩng khi biết người viết cuốn nhật ký này chưa rõ ràng nếu không nói là chưa xác thật với dữ kiện mất mát và thiếu một chứng minh về một cuốn sách ”Hồi ký” hay “Nhật ký”? Điều kiện nào đã khiến những cuốn mất nhiều hơn cuốn được lấy mà nội dung không thiếu phần nào? Một cuốn sách chưa minh bạch thể loại. Thời điểm mất và có lại chưa thống nhất vì người viết đã ghi lại những dữ kiện thiếu tính xác thực. Lỗi này không phải ở những người Mỹ hay người dịch hoặc biên tập và xuất bản mà ở chính tác giả. Nhưng cuốn sách lại được in ấn trong sự tùy tiện cắt xén, thêm thắt từ ngữ mất tính trung thực gây nhiều làn sóng bất mãn là lỗi về phía biên tập, nhà xuất bản và nơi cấp giấy phép. Điều này dẫn tới những cuốn nhật ký đã phát hành trước và sau đó bị đặt trong nghi vấn như nhật ký Đ.T.T.

Thương yêu, kính trọng anh hùng, liệt sĩ, thương binh, ta cứ thương, cứ kính. Tự hào dân tộc thì vẫn tự hào nhưng lịch sử cần sự trung thực còn con người cần sự ”tín dụng”. Khi một người bị ”bad credit” về kinh tế thì có thể lấy lại chữ đó nhưng trong tư cách làm người, nếu mất hai chữ ”tín dụng” coi như tàn một đời!

Với những gì Đ.T.T viết khi nào chưa xác định những nghi vấn trên thì đừng vội ”khua chiêng gõ trống”. Đ.T.T từng viết: “Khán giả chỉ vỗ tay khi diễn viên hay”. Ai đang làm diễn viên? Ai là khán giả? Đ.T.T quên rằng khán giả cũng vỗ tay cho diễn viên chưa hay như một sự khích lệ và lịch sự tối thiểu. Sự thật lúc nào cũng đi sau những nghi vấn khi được hóa giải. Nếu không, tất cả chỉ còn là sân khấu với diễn viên mà không khán giả. Mọi chuyện sẽ trở nên tốt đẹp, chỉ cần biên tập và nhà xuất bản ghi vài câu vào bìa ”Nhật ký và Hồi ký Đặng Thùy Trâm” cùng nguyên bản những gì Th đã viết là đủ. Người đọc sẽ cảm thông và những nghi vấn trên nếu tìm ra được thì tốt, bằng không thì ”hãy để ngày ấy lụi tàn”. Ai đi bới tro than tìm mảnh áo tàn lần nữa cho thêm đau xót.

b. Một sự thực hồi ký hay nhật ký vẫn còn giá trị:

Dù sao đi nữa, ta không phủ nhận nội dung cuốn sách in và chép tay của Đ.T.T. Nó vừa là bài ca ca ngợi vừa là bản cáo trạng:

– Với cán bộ Đảng: Là mẹ hiền, đồng thời là mẹ ghẻ (Ta đừng quên gia đình Đảng chỉ có… mười ba người mẹ mà phải chăn tới ba triệu ”con ruột” và hơn tám mươi triệu ”con ghẻ” thì còn thần thánh nào hơn mà không lăn ra… phục sát đất luôn. Một gia đình đủ hai vợ chồng chăn bốn đứa con còn muốn… tắt thở, huống hồ… ). Là thiểu số thống trị đa số. Là trên còn phải tuỳ thuộc vào dưới (phép vua thua lệ làng). Là đội quân tiên phong lẫn lũ sâu, lũ mọt. Là những cán bộ tốt bụng đi chung với những kẻ ghen tị, nhỏ nhen, tham nhũng từng đồ vật…

– Với đồng chí, đồng nghiệp: Thương yêu, giúp đỡ nhau và có người không muốn người khác hơn mình thường tìm cách khoét về ”chuyên môn”.

– Với cuộc đời, quê hương: Sống chết cho xứng là người chân chính và cũng có nhiều người khi đất nước cần thì tìm cách thoái lui.

– Với tình yêu: Dám yêu hết mình, dám thương một đời, dám giận một kiếp bên cạnh những kẻ có mắt cú vọ xoi mói và những người coi nhẹ tình yêu.

– Thông điệp cuối cùng: Hãy yêu thương nhau lúc sống để không vô nghĩa khi thể hiện tình thương lúc chết.

D. KẾT:

Hồi ký hay Nhật ký quan trọng ở chỗ tính chân thực cần làm sáng tỏ còn nội dung xuyên suốt vẫn là vấn đề ”làm sao sống và chết như một người chân chính” mà chúng ta trăn trở hôm nay. Tất nhiên, nếu một cuốn sách nhật ký không có vấn đề thiếu tính chính xác thì nội dung sẽ được nâng cấp cao hơn và đi vào lòng người nhẹ nhàng hơn một cuốn nhật ký ”có vấn đề” từ khâu tác giả viết rồi mất đến kẻ lấy được, người kể, người biên tập và khâu xuất bản.

Thế giới con người với mọi đức tính đều có trong ”Nhật ký Đ.T.T”. Ta là ai trong những mẫu người ấy? Soi bóng mình vào gương hôm nay để luận bàn lịch sử tương lai sao mà buồn như chưa bao giờ biết buồn! Ngay cả nhật ký mà cũng nhiều cái để bàn thì cuộc đời phức tạp đến mức nào! May sao! Tiếng cười vô tư của con ta đã nhắc ta trở về thực tại: Hiện thực là những tờ giấy trắng cho con ta đến trường với dòng chữ mở đầu ”xin gởi tặng quê hương”. Yêu thương dạy con ta mang về điểm mười. Hận thù dạy con ta trở về với con dao, khẩu súng trên tay. Đó sẽ là một đáp số cho những gì ta đầu tư hôm nay cho con em ta tương lai. Thế mới nói:

Hào quang nào lóe lên rồi cũng tắt

Sự thật trụi trần – dao khắc vết vào tim!

Nhà thơ Phùng Quán trong ”Lời mẹ dạy” có viết:

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét.

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu

…. Bút giấy tôi ai cướp giật đi

Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá.

Sự thực của ”Nhật ký Đặng Thùy Trâm” về cộng, trừ, nhân, chia… đã làm xong. Coi như nthh ta đã mang lại cho độc giả chút hương vị cà phê đắng sau những giờ giải lao và tiếp tục quay trở lại công việc của mình quan trọng hơn nhâm nhi ly cà phê đen này.

Theo như Phùng Quán, coi bộ nthh ta cũng sắp tới ngày ”bẻ bút cầm dao”! Bỏ bút, bỏ đao, ta còn sống ào ào chứ bỏ cái… cọ nghề chắc ta dùng xương thay áo!

Anh hùng Đ.T.T làm cho ta đây nổi sóng bất bình ”rút đao tương trợ”, ai dè đâu đao ta lại vì chữ ”nghĩa khí” mà tìm đến một sự thật trần truị thì coi như ta cũng tự chém ta một nhát vào lương tâm vậy. Mong rằng hương hồn Th chớ có giận ta. Hãy coi đây như một khúc nhạc lòng mà ta đưa tiễn những đau thương của Th đi về một cõi mênh mông…

Nhật ký! Bản thân nó là một sự thật dù chín mươi phần trăm thì cũng đừng “hô biến” nó lên cấp, xuống cấp đã được có của nó. Đời ngắn ngủi sao ta không một lần sống với lương tâm. Đó cũng là tiếng lòng của Đ.T.T cách ba mươi bảy năm về trước như một bài thơ gởi lại cho đời.

“Đặng Thùy Trâm – Bài thơ gởi lại” có nắng ấm trên quê hương, có lý tưởng của con người sống trong một thời đại, một chế độ. Nó có lửa căm hờn, có những tình yêu thương một đời khó giải, có bốn mùa đi qua nỗi nhớ thiết tha và những giọt nước mắt trộn máu đã hóa thành những đám mây ngũ sắc trong gió thanh bình. Hãy để nguyên cây ngũ sắc cho cuộc đời thêm chút sắc màu hồng tô điểm vào ba màu mà Đ.T.T đã thấy Đỏ, Xanh và Đen. Người đời hãy chọn lấy sắc màu nào mình thích, mình yêu. Có hơn không? Cuộc đời đi qua chúng ta mỗi ngày như từng trang nhật ký mà chúng ta vô tình không hay biết đó thôi!

Hãy chăm chút cho “nhật ký” của người còn sống. Những gì tốt đẹp trong cuộc đời hãy dành cho nhau đừng chờ khi chết rồi mới biết yêu thương những hồn ma hư ảnh đã tan thành mây gió mong manh…

Tháng 10/28/05

Ngọc Thiên Hoa

TƯ LIỆU THAM KHẢO CÓ SỬ DỤNG:

I. Sách:

1. Nhật ký Đặng thùy Trâm (Đặng Thùy Trâm, Nxb HNV – 2005).

2. Mãi mãi tuổi hai mươi (Nguyễn Văn Thạc, Nxb TN – 2004).

3. Việt Nam 1945-1995tập I (Lê Xuân Khoa, Tiên Rồng – 2004)

4. Đại cương Lịch sử VN, tập III ( Nxb GD – 2004).

5. Văn bút Châu Âu, tập II, (Viên giác – 1994).

6. Hà Nội một thời xa (Lê Văn Ba, Nxb TN – 2002).

7. Phận bạc ( Làng văn, 1997).

8. Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại ( Phan Cự Đệ, Nxb GD – 2001).

9. Tự điển tác giả, tác phẩm dùng trong nhà trường (Nxb ĐHSP – 2004).

10. Đặc san ”Lướt sóng” – 2002.

II. Bài viết:

– Có một con đường mòn trên biển Đông (Nguyên Ngọc, Nxb Hà Nội).

– Đi tìm Sulico (Vinh Thu, Báo Tiền Phong số 14, 15,16 ngày 4/4/1995).

– Ai biết liệt sĩ Đặng Thùy Trâm? (Trầm Hương, Báo PNTĐ số 51 ngày 22-29/12/2004).

– Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm mãi mãi tuổi thanh xuân (Trương Thị Kim Dung, Báo PNTĐ năm 2004).

– ”Ngôi nhà thờ họ Đặng của liệt sĩ Đặng thùy Trâm ở Huế’‘ (Nguyễn Đắc Xuân, Talawas.org).

– Cơn sốt nhật ký có lửa ( Nguyễn Hùng, BBC Vietnamese.com).

– Đặng Thùy Trâm qua lời kể của nguời chị kết nghĩa (Ngọc Tấn, vietnam.net).

 Cảm nhận từ lời phát biểu của Ngô Lê Hoàng Phương đọc hai cuốn nhật ký của Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc (Tùng Lâm, vietnam.net).

– Lời giới thiệu Nhật ký Đặng Thùy Trâm (Vương Trí Nhàn, talawas.org).

– Chuyện về Đặng Thùy Trâm viết từ Mỹ (Lê Thành Giai, Đặng Ngọc Khoa, thanhnien.com).

 Hành trình sang Mỹ tìm Nguyễn Trung Hiếu với tư cách là nữ phóng viên báo Tuổi trẻ (Uyên Ly, thanhnien.com).

– Cấp lãnh đạo nhà nước Việt Nam (cựu Võ Nguyên Giáp, Phan Văn Khải) đã viết thư, phát biểu ca ngợi, nâng cấp cuốn sách ĐTT mang tầm vóc quốc tế (thanhnien.com).

– Di sản Đặng Thùy Trâm (Fred, talawas.org).

– Và em, Tuổi hai mươi: Tản mạn về cuốn ‘Nhật ký tuổi hai mươi” (Hoài Việt, giaodiem.com).

– Thư ngỏ gởi các bạn trẻ Việt Nam và hai bạn Mỹ Fred, Robert (Bùi Minh Quốc, talawsa.org).

– Mấy cảm nghĩ nhân đọc “Thư ngỏ …” (Lê Nguyễn, talawas.org).

– Từ Thép đã tôi thế đấy đến Nhật ký Đặng Thùy Trâm, những uớc mơ bị phản bội (Trần Trung Đạo, vnn-news.com).

– Biên soạn nhật ký?” (Phạm Hoàng Quân, talswas.org).

– Nhật ký Đặng Thùy Trâm: So sánh nguyên tác và ấn bản (Nguyễn Ngọc Giao, talawas.org).

– Đặng Thùy Trâm qua lời kể của chị kết nghĩa’ (Ngọc Tấn, vietnam.net).

Xin chân thành cám ơn.

[yourchannel user=”Nguyễn Tuấn” search=”Nhật ký Đặng Thùy Trâm”]

Quảng cáo/Rao vặt

%d bloggers like this: